Who's Online?

We have 29 guests online
Giáo Pháp / Teachings Luận / Treatises Bồ Đề Tâm Thích - Bodhicittavivarana [Long Thọ - hn - text]
Bồ Đề Tâm Thích - Bodhicittavivarana [Long Thọ - hn - text] Print E-mail

GIẢNG VỀ BỒ ĐỀ TÂM [BỒ ĐỀ TÂM THÍCH]

Phạn: Bodhicittavivarana
Tạng: Jangchup Semdrel

Anh: Commentary on the Awakening Mind

HỒNG NHƯ CHUYỂN VIỆT NGỮ TỪ ANH NGỮ

[HẠ TẢI - pdf]

Hình ngài Long Thọ

(Họa sĩ khuyết danh)

 

 

Giảng Về Tâm Bồ Đề

Bồ Đề Tâm Thích

Boddhicittavivarana Commentary on Bodhicitta

Tác giả: Thánh giả Long Thọ

 

 

Kính lễ tán dương đức Kim Cang Tát Đỏa!

Chư Phật nói rằng:

Không có thực thể;

Lìa bỏ phân biệt / đối tượng, chủ thể, / như là các uẩn, / hay là giới, xứ; /

Vạn pháp bình đẳng / vô ngã như nhau,

Tâm vốn vô sinh; / chân tánh của tâm / chính là tánh không.

Cũng như chư Phật cùng chư bồ tát đã từng phát tâm vô thượng bồ đề, nay tôi cũng làm đúng theo như vậy, kể từ bây giờ cho đến khi vào trái tim giác ngộ, tôi nguyện phát tâm vô ­thượng bồ đề, để có khả năng cứu vớt những ai chưa được cứu vớt, cởi thoát những ai chưa được cởi thoát, cứu độ những ai chưa được cứu độ, và cho những ai còn chưa triệt để siêu thoát khổ đau, tôi sẽ giúp cho siêu thoát được cả.

Chư vị bồ tát hành trì mật pháp sau khi phát tâm bồ đề qui ước nhờ vào nguyện lực, tiếp theo phải nhờ năng lực thiền định mà thành tựu tâm bồ đề cứu cánh. Vậy nay tôi xin hiển lộ chân tánh của tâm bồ đề.

1. Trước đấng cát tường / Phật Kim Cang Trì,
ngài là hiện thân / của tâm bồ đề,
đệ tử đảnh lễ / và xin thuyết về / thiền định bồ đề,
là tâm khiến cho / luân hồi đoạn diệt

2. Chư Phật minh xác / tâm bồ đề này
vốn không từng bị / khái niệm che mờ,
như niệm chấp ngã / chấp uẩn hay là / chấp các thứ khác;
tâm bồ đề vốn / chỉ là tánh không

3. Phải vận dụng tâm / thấm nhuần từ bi,
để mà tinh tấn / phát tâm bồ đề.
Tất cả chư Phật / đại từ đại bi
đều luôn miên mật / phát tâm như vậy.­­­

4. Ngã do các phái / cực đoan đề xướng
nếu dùng luận lý / quán sát tận tường
sẽ không thể thấy / ngã thật ra trú
ở nơi chốn nào / bên trong các uẩn / [của thân và tâm].

5. Các uẩn tuy có / [nhưng] không thường còn;
nên không thể mang / tính chất của ngã.
Thường và vô thường, / không thể nào có
cái này làm chỗ / chứa đựng cái kia.

6. Nếu cái gọi là / "ngã" vốn không có,
thì cái gọi là / "thực thể" làm sao
có thể thường còn? / Phải có các pháp
rồi mới có thể / quán xét truy tìm
thuộc tính của nó / trong cõi thế gian.

7. Điều gì thường còn / thì không thể nào
tạo nên tác dụng / dù tạo từ từ
hay ngay tức thì; / vậy dù bên ngoài
hay là bên trong / đều không thể có / thực thể thường còn.

8. Nếu như cái ngã / vốn là vạn năng
làm sao có thể / tùy thuộc thứ khác?
Lẽ ra phải tạo / [tất cả các pháp] / trong cùng một lúc.
Đã là tùy thuộc / vào điều gì khác
thì không thể nào / thường còn, vạn năng.

9. Nếu như cái ngã / là một thực thể / thì không thường còn,
vì các thực thể / đều luôn chuyển biến / trong từng sát na;
còn đối với các / thực thể vô thường,
tạo nên sự vật, / [[tôi]] không phủ nhận.

10. Toàn cõi thế gian / vốn dĩ không có
cái ngã, vân vân, / thế nhưng lại bị
triệt để khống chế / bởi những khái niệm
về uẩn, giới, xứ, / chủ thể, đối tượng.

11. Vì làm lợi ích / cho khắp chúng sinh,
nên [Phật tùy duyên] / dạy chúng đệ tử:
Năm uẩn là sắc, / thọ, tưởng, hành, thức.

12. Đấng Lưỡng Túc Tôn / thường dạy thêm rằng:
"sắc như bọt nổi,
thọ như bóng nước,
tưởng như ảo ảnh.

13. Hành như thân chuối,
thức như ảo thuật."
đó chính là lời
Phật dạy bồ tát.

14. Tất cả những gì / hợp từ tứ đại
đều là sắc uẩn; / các uẩn còn lại
đều được xác định / là phi vật thể.

15. Trong đó, nhãn căn / và sắc, v.v...
được gọi là giới;
và cũng được gọi / là mười hai xứ
hay là chủ thể, / cùng với đối tượng.

16. Cực vi sắc trần / là điều không có / nhãn căn cũng không;
và nhãn căn làm / chủ thể nhận thức / cũng không hề có;
cho nên cái tạo / và cái được tạo
hoàn toàn chẳng hợp / với sự tạo sinh

17. Vi trần không thể / tạo sinh nhận thức
vì lẽ vi trần / nằm ngoài phạm vi / của các giác quan
[hoặc giả] nói rằng / vi trần tập hợp / mà sinh ra thức?
thế nhưng tập hợp / của các vi trần / cũng không thể có.

18. Cho dù phân xẻ / chí đến cực vi
thì cũng vẫn còn / thành phần phương hướng;
đã là một vật / gồm nhiều thành phần,
làm sao có thể / gọi bất khả phân?

19. Trước một đối cảnh, / có thể phát sinh
nhiều loại nhận thức
người này thấy đẹp
nhưng với người kia / có khi lại khác.

20. Đối với cùng một / thân người phụ nữ,
có khi phát sinh / ba loại nhận thức :
nhà tu khổ hạnh / sẽ thấy thây ma ;
đàn ông nhìn ra / đối tượng thèm muốn;
chó [hoang] lại thấy / là miếng mồi ngon.

21. [Nếu như nói rằng] / "khả năng tác động
nằm ở đối cảnh" / chẳng phải cũng là
giống như trong mơ / thấy mình bị hại?
nếu xét khả năng / tác động của cảnh,
giữa cảnh trong mơ / và cảnh khi tỉnh
khả năng tác động / chẳng khác gì nhau.

22. Chủ thể, đối tượng; / đều hiện trong tâm
tách lìa tâm ra / hoàn toàn không có / đối cảnh nào khác.

23. Vì vậy không có / đối cảnh thực hữu;
chỉ do nhận thức / trong tâm mỗi người / hiện thành đối cảnh.

24. Tựa người mê muội / thấy toàn huyễn cảnh
thành quách đền đài / quỉ càn thát bà;
do đó họ thấy / sắc uẩn hiện ra / cùng các uẩn khác.

25. Vì để phá tan / mê lầm chấp ngã
nên [đức Phật] dạy / về uẩn, giới, xứ...
những kẻ thiện duyên / trú ở Duy thức
về sau ngay cả / [pháp này] cũng bỏ

26. Duy thức nói rằng / vạn pháp đều do
tâm tạo mà thành. / Vậy thì tánh chất
của tâm là gì? / tôi sẽ minh giải / điểm này ở đây.

27. Đức Mâu ni dạy / "nhất thiết duy tâm",
đó là để giúp / cho kẻ ấu trĩ / vất bỏ sợ hãi;
sự thật đúng ra / không phải như vậy.

28. Tự tánh giả lập, / tự tánh tùy thuộc
tự tánh viên thành / ba tánh chỉ có
một tánh chân thật / đó là tánh không;
hành trạng ba tánh / được dựng lên từ
ngay ở nơi tâm

29. Đối với những người / vui trong Đại thừa
đức Phật nói lời / ngắn gọn như sau:
rằng vô ngã vốn / tuyệt đối bình đẳng;
và rằng tâm vốn / bản lai vô sinh.

30. Du Già Tông nói / chính nhờ điều phục
và nhờ chuyển hóa / toàn bộ tâm thức
mà tâm trở nên / hoàn toàn thanh thịnh
và cũng trở thành / đối tượng nhận thức / của tâm tự biết.

31. Quá khứ không còn, / tương lai chưa tới,
hiện tại thì lại / luân chuyển không ngừng,
vậy đâu thể có / [tâm trong] hiện tại?

32. Thật tướng của tâm / thì không thể thấy;
những gì thấy được / đều không phải là
thật tướng của tâm; / tâm thức vô ngã
và cũng không có / nền tảng nào khác

33. Ví như thỏi sắt / gần đá nam châm
lập tức qui về; / tuy không có tâm
nhưng lại giống như / là vật có tâm.

34. Tương tự như vậy / tạng thức không thật
mà thấy giống như / là điều có thật;
cứ vậy, tới lui / lưu giữ tất cả / [ba cõi] luân hồi.

35. Cũng như thân cây / bập bềnh trên biển
dù chẳng có tâm; / tạng thức cũng vậy
tùy thuộc nơi thân / mà có chuyển động.

36. Như vậy, nếu nói / rằng không có thân
thì không có thức, / vậy phải giải thích
xem "tâm tự biết" / thật ra là gì?

37. Gọi "tâm tự biết" / vậy là mặc nhiên
khẳng định thức này / là một thực thể;
thế nhưng khi nói / "nó là như vậy"
thì lại khẳng định / thức này vô năng.

38. Tự mình xác quyết, / và để giúp cho
người khác xác quyết / bậc trí luôn dùng
luận lý tuyệt hảo / không vướng sai lầm.

39. Thức là chủ thể / nhận biết đối tượng;
nếu không đối tượng / chủ thể cũng không;
vậy sao các ông / không thấy ra rằng
chủ thể, đối tượng, / đều không thật có?

40. Tâm là giả danh; / ngoài cái tên ra
không là gì cả; / cho nên phải thấy
thức là giả danh / và cả danh này / cũng không tự tánh.

41. Dù trong hay ngoài, / hay ở chính giữa,
chư Phật chẳng từng / tìm thấy được tâm;
vậy tánh của tâm / là tánh như huyễn.

42. Phân biệt sắc, dạng, / đối tượng, chủ thể,
nam, nữ, trung tính / tâm chẳng hề có / tướng dạng nhất định.

43. Tóm lại chư Phật / chẳng từng thấy qua
và cũng sẽ không / bao giờ nhìn thấy
[cái tâm như vậy]; / tâm không tự tánh
làm sao chư Phật / lại có thể thấy / là có tự tánh?

44. "Thực thể" thật ra / chỉ là khái niệm;
vắng bặt khái niệm / đó là tánh không;
nếu như niệm khởi / tánh không đâu còn?

45. Cái tâm phân biệt / chủ thể, đối tượng,
là điều Như lai / chẳng từng nhìn thấy;
nơi nào còn có / chủ thể đối tượng
thì chẳng thể có / giác ngộ bồ đề.

46. Vô tánh, vô sinh; / và không thật có;
ngoài tầm nghĩ bàn; / hư không, bồ đề,
cùng với giác ngộ, / tất cả vượt ngoài
phạm trù đối đãi.

47. Các bậc an trụ / trong tâm giác ngộ
như chư Thế tôn, / cùng chư đại sĩ,
chư đại từ bi, / đều biết tánh không
tựa như hư không

48. Vậy phải miên mật / thiền quán tánh không:
nền tảng các pháp, / an tịnh, như huyễn,
và vô sở trú, / đoạn diệt luân hồi.

49. [Chấp không] như là / "vô sinh", "tánh không",
hoặc như "vô ngã", / thiền quán những loại
tánh không như vậy / đó chẳng phải là / thiền quán [chân thật].

50. Khái niệm thiện ác / mang tánh sinh diệt
[sát na vô thường] / Phật nói là không;
ngoài ra chẳng có / tánh không nào khác.

51. Tâm vô sở trụ, / trú xứ của tâm
có những đặc tánh / tựa như hư không;
[vậy] thiền tánh không / có thể nói đó / là thiền hư không.

52. Tánh không chính là / tiếng gầm sư tử
làm cho kinh sợ / mọi giáo thuyết khác;
luận sư dị tông / dù trú nơi đâu,
tánh không cũng vẫn / đợi ngay nơi ấy.

53. Đã nói tâm thức / vốn luôn sinh diệt,
thì đâu thể nào / nói thức thường còn;
nếu tâm vô thường / làm sao có thể
nghịch với tánh không?

54. Tóm lại chư Phật / nói tâm vô thường,
sao các ông lại / chẳng thể chấp nhận / tâm cũng là không?

55. Tâm tự bản lai / vốn không tự tánh;
nói vậy không phải / tâm có tự tánh
rồi tự dưng lại / mất đi tự tánh.

56. Thấy được như vậy, / là lìa bỏ hết
ngã chấp trong tâm; / đi quá ra ngoài
bản tánh sự vật / thì chẳng phải là / chân tánh vạn pháp.

57. Cũng như vị ngọt / là tánh của đường
hay như sức nóng, / là tánh của lửa
tương tự như vậy, / chúng tôi nói rằng
tánh của vạn pháp / chính là tánh không.

58. Nói tánh không là / tánh [của vạn pháp]
như vậy chẳng phải / đề xướng đoạn kiến
đồng thời cũng không / đề xướng thường kiến.

59. Khởi từ vô minh / cho đến lão tử,
tất cả quá trình / phát sinh ra từ
mười hai nhân duyên / chúng tôi nói rằng
như mộng, như huyễn.

60. Bánh xe nhân duyên / gồm mười hai nhánh
lăn trên đường đời / luân hồi sinh tử,
ngoài ra chẳng thể / có chúng sinh nào
tạo nghiệp, thọ quả.

61. Ví như khuôn mặt / tùy thuộc vào gương
mà ảnh hiện ra, / đó chẳng phải là
mặt đi vào gương; / thế nhưng không gương
thì cũng không ảnh.

62. Tương tự như vậy
ngũ uẩn giả hợp / thành kiếp sống mới;
nhưng mà bậc trí / luôn thấy rõ rằng
chẳng phải có người / vừa mới tái sinh
cũng chẳng có ai / chuyển sang kiếp mới.

63. Nói tóm gọn lại: / từ những sự vật
vốn chỉ là không, / mà phát sinh ra
những sự vật khác / cũng toàn là không;
người tạo nghiệp cùng / với nghiệp đã tạo,
quả tạo, cùng với / chính người chịu quả,
đức Phật dạy rằng / tất cả đều thuộc / phạm trù qui ước [Tục đế]

64. Như tiếng trống lớn, / hay như chồi non
đều do nhân duyên / phối hợp mà thành.
Do đó mà nói / cảnh giới duyên sinh / đều như mộng ảo.

65. Rằng vạn pháp đều / do nhân duyên sinh,
không hề mâu thuẫn / [với không tự tánh],
vì chính nhân này / rỗng lặng không nhân,
cho nên phải hiểu / vạn pháp vô sinh

66. Vô sinh của pháp / đức Phật dạy rằng
đó là tánh không; / tóm lại, năm uẩn / gọi là "vạn pháp"

67. Khi mà chân đế / được thuyết như vậy
thì chẳng hề làm / chướng ngại tục đế;
lìa tục đế ra / chân đế chẳng còn.

68. Phật dạy tục đế / chính là tánh không;
tánh không, tự nó, / chính là tục đế;
cái này không thể / tách lìa cái kia
cũng như vô thường / chẳng lìa sinh khởi.

69. Tục đế khởi sinh / từ nghiệp, phiền não;
nghiệp thì lại từ / tâm mà sinh ra;
còn tâm là do / tập khí tích tụ;
tách lìa tập khí / an lạc hiện tiền.

70. Tâm hỉ thì tịnh; / tâm tịnh thì định;
không loạn động vì / thấy đúng như thật;
thấy đúng như thật / là đạt giải thoát.

71. Tâm này gọi là / "chân như", "pháp giới",
"vô tướng", "chân đế", / "vô thượng bồ đề",
và là 'tánh không".

72. Không hiểu tánh không, / thì không thể nào
đủ sức lĩnh hội / đường tu giải thoát;
nên kẻ vô minh / cứ phải trầm luân / sáu cõi luân hồi.

73. Nếu bậc hành giả / quán không như vậy
chắc chắn tâm sẽ / thiết tha mong muốn / lợi ích chúng sinh.

74. "Đối với chúng sinh / trong đời quá khứ
đã từng cho tôi / rất nhiều ơn nặng,
như là cha, mẹ, / bằng hữu, thân nhân...
tôi nguyện đền trả / trọn vẹn ơn này. "

75. "Vậy mà chúng sinh / lại bị thiêu đốt
bởi lửa phiền não / tù ngục luân hồi;
trong thời quá khứ / tôi khiến cho họ
chịu nhiều khổ não; / nay tôi xin nguyện
làm điều lợi ích / mang đến cho họ / tất cả an vui."

76. Quả lành, quả dữ; / thọ sinh thiện đạo,
hoặc sinh ác đạo / tất cả đều do
làm lợi cho người / hay là tác hại.

77-78. Nương vào chúng sinh / chắc chắn rồi sẽ
đạt quả vô thượng; / chẳng đáng ngạc nhiên
khi thấy bất cứ / quả an lạc nào / trong cõi trời, người,
như là các đấng / Phạm Thiên, Đế Thích
Hắc Thiên cùng với / thần linh bảo hộ
trong khắp ba cõi, / đều có là nhờ / lợi ích chúng sinh.

79. Còn như địa ngục, / ngạ quỉ, súc sinh,
bao nhiêu khổ não / chúng sinh phải chịu,
đều có là vì / nhiễu hại người khác.

80. Chịu đói, chịu khát, / xâu xé lẫn nhau,
hấp hối quẫn bách, / chẳng thể quay đầu,
không có kết thúc; / tất cả đều là
quả báo phải chịu / vì hại chúng sinh.

81. [Bên này thì có], / quả Phật, bồ đề, / thọ sinh thiện đạo;
[còn bên kia là] / thọ sinh cõi dữ ;
cho nên phải biết / [nghiệp] quả có hai.

82. Vậy có được gì / hãy mang ra hết
phụng sự chúng sinh; / giữ gìn chúng sinh
như giữ thân mạng; / còn tâm dửng dưng
hãy nên vất bỏ / như vất thuốc độc.

83. Chư vị thanh văn / đạt quả vị nhỏ
chẳng chính là vì / các vị không có
tình thương rộng lớn / đối với chúng sinh?
chư Phật không hề / lìa bỏ chúng sinh
do đó đạt được / vô thượng bồ đề.

84. Vậy, khi đã thấy / việc làm thiện, ác,
dẫn đến nghiệp quả / lành dữ ra sao,
làm sao có thể, / dù chỉ phút giây,
giữ tâm vị kỷ / thủ lợi riêng mình.

85. Bồ đề nảy mầm / nhờ bám sâu rễ
nơi tâm đại bi, / từ đó trổ ra / quả [chân] giác ngộ,
là quả duy nhất / của tâm vị tha,
đây là điều mà / những người con Phật / vẫn luôn thuần dưỡng.

86. Ai nhờ tu tập / mà đạt được tâm / bồ đề kiên cố,
đối trước nỗi khổ / của khắp chúng sinh / xiết bao kinh hãi,
hỉ lạc trong định / liền từ bỏ hết,
muôn trùng sâu thẳm, / địa ngục vô gián / liền sinh ngay vào.

87. Tuyệt diệu biết bao / đáng phục biết bao
thật là con đường / nhiệm mầu tuyệt hảo
cho dù cho hết / của cải thân mạng
cũng chẳng có gì / đáng để ngạc nhiên

88. Thế nhưng hiểu được / vạn pháp đều không
mà vẫn có thể / sống thuận nhân quả
như vậy mới là / kỳ diệu hơn cả / những điều kỳ diệu!
nhiệm mầu hơn cả / những sự nhiệm mầu!

89. Những ai vì muốn / cứu vớt chúng sinh
mà nguyện sinh vào / bùn lầy thế tục,
thì không thể nào / nhiễm uế vì bùn;
tựa như cánh sen / mọc từ ao nước.

90. Dù chư bồ tát / như ngài Phổ Hiền
dùng lửa trí tuệ / của tánh không này
thiêu rụi tất cả / củi gỗ phiền não;
nhưng tâm cũng vẫn / thuần dịu từ bi.

91. Chư vị nương dưới / sức mạnh từ bi
thị hiện nhập thế, / sinh ra, hưởng lạc,
từ bỏ ngai vàng, / hành trì khổ hạnh,
đạt đại giác ngộ, / hàng phục quần ma.

92. Thị hiện chuyển đẩy / bánh xe chánh pháp,
thị hiện lên tận / cõi trời chư Thiên
và rồi thị hiện / nhập cõi niết bàn.

93. Thị hiện Phạm Thiên, / Đế Thích, Vi Nữu,
Hắc Thiên oai thần, / dùng bao sắc thân
thị hiện phong phú / điệu vũ từ bi / vô vàn thiện hạnh
mang đến an lành / cho khắp chúng sinh.

94. Vì để cho người / trên đường sinh tử
thối chí nản lòng / được thời ngơi nghỉ
cho nên Phật thuyết / về hai trí tuệ / dẫn đến Đại thừa;
đây chẳng phải là / trí tuệ rốt ráo.

95. Phật chưa thúc gọi / thì chư đệ tử
mải mê an trụ / ở trong huệ thân
đắm chìm cõi định.

96. Khi Phật thúc gọi, / các vị xuất thiền,
óa hiện nhiều thân, / thiết tha cứu giúp / khắp cả chúng sinh;
tư lương phước tuệ / tích tụ đủ rồi
khi ấy các vị / viên thành Phật quả.

97. Vì rằng tập khí / có hai [chướng ngại]
nên tập khí ấy / gọi là chủng tử ;
bao giờ hạt giống / gặp gỡ nhân duyên,
khi ấy nẩy mầm / chồi cây sinh tử.

98. Vì lẽ Thế tôn / dựa theo nhiều loại
căn cơ chúng sinh / mà thuyết Phật Pháp,
cho nên cũng có / nhiều loại pháp môn

99. Chia thành giáo pháp / phương tiện quảng đại,
hoặc là giáo pháp / Trí Tuệ Thâm Sâu,
cũng có khi là / đầy đủ cả hai;
tuy rằng có nhiều / pháp môn như vậy
nhưng mọi pháp môn / vẫn đều bình đẳng
trong tự tính không / và đều bất nhị.

100. Mọi chú tổng trì, / mọi địa [bồ tát],
cùng ba la mật / của chư Phật đà,
chư Toàn Giác nói / đều là biểu hiện
của bồ đề tâm.

101. Chư vị luôn luôn / dùng thân miệng ý
mà tạo lợi ích / cho khắp chúng sinh
nên khi xiển dương / luận lý tánh không
chẳng ai có thể / nói rằng các vị / vướng vào đoạn kiến.

102. Chư tôn thánh giả / chẳng trú luân hồi,
chẳng trú niết bàn, / cho nên chư Phật
dạy đây chính là / niết bàn vô trú.

103. Từ bi chỉ mang / một vị duy nhất,
vị của công đức; / còn tánh không thì
mang vị thắng diệu; / những ai uống được
[nước cam lồ này] / để mà thành tựu
tự lợi lợi tha / thì đây đúng là
người con chân chính / của đấng Thế tôn.

104. Trước chư vị này / các ông hãy mang
hết thảy thân tâm / ra mà đảnh lễ,
vì chư vị ấy / trong toàn ba cõi
luôn luôn xứng đáng / nhận sự tôn vinh;
là người dẫn đường / cho khắp thế gian,
là bậc kế thừa / của khắp chư Phật.

105. Tâm bồ đề này / chính là tột đỉnh / của pháp Đại thừa;
vậy các ông hãy / kiên trì nhập định / phát bồ đề tâm.

106. Để đạt tất cả / tự lợi, lợi tha,
ngoài tâm bồ đề / kiếm khắp cõi thế
cũng không tìm ra / phương pháp nào khác;
dù là chư Phật / cho đến ngày nay
cũng không thấy ra / có cách nào khác.

107. Công đức phát tâm / vô thượng bồ đề
lượng công đức ấy / nếu như có thân,
không gian vô tận / vẫn không chứa hết.

108. Người nào nhập định / thiền tâm bồ đề,
dù chỉ chốc lát, / khối công đức ấy
ngay đến chư Phật / cũng không đo nổi.

109. Tâm này quí giá / không vướng phiền não;
là viên ngọc báu / tuyệt vời, duy nhất;
dù ma phiền não / vẫn không thể nào
làm cho hư hại / cũng không thể nào / đánh cắp mất đi.

110. Đại nguyện chư Phật / cùng chư bồ tát
không thể hư mòn; / tương tự như vậy
những ai thấm nhuần / trong bồ đề tâm
nên giữ tâm này / cho thật kiên cố.

111. Thật là kỳ diệu, / các ông hãy nên
ra công cố gắng / như nói ở trên;
rồi các ông sẽ / tự mình làm nên / hạnh nguyện Phổ hiền.

112. Tâm bồ đề này / chư Phật vẫn hằng / tán dương hoan hỉ,
nay tôi cũng xin / xưng tán bồ đề;
việc làm như vậy / được bao công đức,
nguyện nương vào đó / mà khắp chúng sinh
trầm luân biển cả / sinh tử sóng cuồng
vào được con đường / chư Lưỡng Túc Tôn / đã từng đi qua.

Đến đây chấm dứt Bồ Đề Tâm Luận của đại đạo sư thánh giả Long Thọ. Bài pháp này do Sư Trưởng Ấn độ Gunakara và dịch giả Rapshi Shenyen chuyển [tạng] ngữ và hiệu đính, sau đó được Sư Trưởng Ấn độ Kanakavarma và dịch giả Tây tạng Patsap Nyima Drak duyệt lại.

Geshe Thubten Jinpa dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ / Hồng Như Thubten Munsel chuyển từ Anh ngữ sang Việt ngữ. Bản hiệu đính 2009.

English translation © 2006 Geshe Thupten Jinpa

Vietnamese translation © 2007 Hong Nhu (Thubten Munsel) - Re-edit 2009