| Ngọn Đèn Soi Đường Giác Ngộ - Lamp of the Path... [Atisha - hn - text] |
|
|
|
Vietnamese title: Đèn Soi Đường Giác Ngộ hay là Bồ Đề Đạo Đăng Luận NGỌN ĐÈN SOI ĐƯỜNG GIÁC NGỘ hay là Bồ Đề Đạo Đăng Luận Tác giả : Lama Atisa
Con xin tán dương Đức Diệu Cát Tường
Với lòng tôn kính Con xin tán dương Phật, là những đấng Đại hùng của khắp Mười phương ba thời; Pháp, là giáo pháp Do Phật truyền lại; Tăng, là những vị Bước theo Phật Pháp. Đáp lời thỉnh cầu Đệ tử cao trọng Tên Jangchub O, Con xin thắp sáng Ngọn đèn soi đường Dẫn đến giác ngộ.
Căn cơ người tu Vốn có 3 loại Thấp, vừa và cao, Vì vậy thầy sẽ Nói rõ căn cơ Của từng loại người. 3 Có người vận dụng Đủ loại phương tiện Để tìm cho mình Lạc thú thế gian. Những người như vậy Là bậc sơ căn. 4 Lại có người vì An lạc cá nhân Mà từ bỏ hết Lạc thú thế gian, Hết thảy ác nghiệp, Họ đều không làm. Những người như vậy Là bậc trung căn. 5 Lại có những người Đã từng phải chịu Rất nhiều khổ não Nên mang tâm nguyện Tận diệt khổ đau Cho mình, cho người. Những người như vậy Là bậc thượng căn. 6 Vì bậc thượng căn Hướng về thượng Pháp, Thầy sẽ nói về Phương tiện tuyệt hảo Do các đạo sư Ân cần truyền dạy. 7 Đối trước tranh vẽ Hay trước hình tượng Của đấng vô thượng Chánh đẳng chánh giác, Đối trước bảo tháp Và trước kinh điển, Các con hãy tùy Khả năng bày biện Hương hoa cúng dường. 8 Thành tâm hiến cúng Thất chi Phổ hiền Theo hạnh nguyện vương, Lập chí kiên quyết Nguyện không quay lại Nếu chưa đến được Bến bờ nẻo giác. 9 Lòng tin kiên định Đặt nơi Tam bảo, Hãy quì một chân, Và chắp hai tay, Đọc câu phát nguyện Qui y ba lần. 10 Rồi hãy để cho Tâm Từ rộng mở, Yêu thương hết thảy Các loài chúng sinh. Nhìn rõ chúng sinh Vướng trong khổ não, Khổ trong ác đạo, Khổ vì sinh tử. Hãy nhìn cùng khắp, Đừng sót một ai. 11 Vì mong chúng sinh Thoát hết tất cả Khổ khổ, hoại khổ Cùng với hành khổ, Thoát cả nguyên nhân Tạo nên nỗi khổ, Nên lập đại nguyện Phát tâm bồ đề Quyết không thoái chuyển 12 Phát tâm như vậy Mang ý nghĩa gì, Đều đã được đức Di lạc từ tôn Giải thích rõ trong Kinh Thân Tỏa Rộng. 13 Nhờ đọc kinh này, Hay nhờ nghe giảng, Mà hiểu tường tận Lợi ích vô lượng Phát tâm bồ đề. Hiểu rồi phải gắng Liên tục phát tâm, Cho tâm bồ đề Ngày thêm tỏa rạng. 14 Trong bộ Vira- datta vấn kinh Có giải thích về Công đức Bồ đề. Nay thầy nói lại Ba câu chỉnh cú Tóm lược ý kinh.. 15 Công đức bồ đề Nếu như có thân, Thân ấy nhất định Đầy ắp không gian, Và còn tỏa rộng Quá hơn vậy nữa. 16 Ai mang châu báu Lấp đầy cõi Phật Nhiều bằng số cát Có trong sông Hằng Để mà hiến cúng Chư Phật Thế tôn, 17 Thì công đức ấy Vẫn không thể sánh Với đôi tay chắp Tâm hướng bồ đề. Vì công đức này Bao la vô tận. 18 Tâm nguyện bồ đề Một khi đã phát, Phải hằng ghi nhớ Phát triển không ngừng; Đời này kiếp sau Không bao giờ xa Giới hạnh bồ tát. 19 Nhưng Tâm bồ đề Sẽ không phát sinh Nếu không dấn thân Phát tâm thọ giới. Vậy con hãy gắng Thọ giới bồ tát Cho bồ đề tâm Bắt rễ đâm chồi. 20 Muốn đủ điều kiện Thọ giới Bồ tát Thì phải thọ giữ Một trong bảy bộ Giới Ba la đề (Praktimosha). 21 Chư Như lai thuyết Về bảy bộ giới, Cao nhất là giới Dành cho tỷ kheo Và tỷ kheo ni. 22 Làm theo lời kinh "Thập Địa Bồ Tát" Con hãy đi tìm Vị thầy có đủ Khả năng truyền giới.
23 Thầy đủ khả năng Phải là vị thầy Khéo biết nghi thức Truyền giới Bồ tát, Trang nghiêm giới hạnh Đầy đủ tự tín Và tâm từ bi Truyền giới cho người.
24 Nếu tìm không gặp Vị thầy như vậy, Vẫn còn một cách Thọ giới Bồ tát.
25 Trong Kinh Trang Nghiêm Văn Thù Tịnh Độ Có kể tường tận Câu chuyện khi xưa Khi ngài Văn thù Còn là quốc vương Am-ba-ra-da [Ambaraja], Đã từng phát tâm Theo phương pháp này. Bây giờ thầy sẽ Giải thích rõ ràng Phương pháp phát tâm Đúng theo như vậy.
26 "Con xin đối trước Các bậc Hộ pháp, Nguyện xin phát tâm Vô thượng bồ đề. Mời chúng sinh về Chứng giám cho con, Nguyện sẽ quảng độ Chúng sinh thoát khỏi Ràng buộc luân hồi”
27 "Từ nay đến ngày Con đạt giác ngộ, Nguyện từ bỏ hết Tâm lý ô nhiễm, Ác ý, giận dữ Keo bẩn, ganh ghen.
28 "Nguyện giữ giới hạnh Từ bỏ ác, tham, Vui việc giữ giới Nối gót chư Phật.
29 "Nguyện không vì mình Mà ham mau chóng Thành tựu giác ngộ. Nguyện luôn ở lại Làm người sau cùng.
30 "Nguyện sẽ làm sạch Vô lượng cõi giới, Làm nên tịnh độ Không thể nghĩ bàn. Nguyện vì những người Gọi đến tên con, Mà khắp mười phương Con đều có mặt.
31 "Nguyện làm thanh tịnh Hết thảy ác nghiệp Từ thân ngữ ý Mà phát sinh ra. Mọi việc bất thiện, Con đều không làm. Trang nghiêm giữ gìn Giới hạnh Bồ tát.
32 Lấy tâm bồ đề Mà khéo giữ gìn Ba loại giới luật, Tâm sẽ kiên định Vững tin nơi Giới. Đây chính là nhân, Khiến thân ngữ ý Trở nên thanh tịnh.
33 Bồ tát phát tâm, Kiên trì giữ giới, Sẽ gom đầy đủ Tư lương thành tựu Vô thượng bồ đề.
34 Chư Phật dạy rằng Nhân duyên khiến cho Sung mãn hai bồ Tư lương phước tuệ, Chính là đạt Định.
35 Tựa như chim non Không thể cất cánh Vút lên trời cao; Người thiếu Định lực Không thể làm việc Lợi ích chúng sinh.
36 Nếu chưa đạt Định Thì dù cố gắng Tu hàng trăm kiếp, Được bao công đức Vẫn không thể sánh Công đức một ngày Khi đã có Định.
37 Ai muốn nhanh chóng Tích lũy hai bồ Tư lương phước tuệ, Thành tựu viên mãn Vô thượng bồ đề, Thì đừng biếng nhác. Phải luôn kiên trì Tu cho đạt Định.
38 Muốn cho đạt Định, Tâm phải an trú. Vậy phải không ngừng Kiên trì cố gắng, Tu Xa-ma-tha.
39 Nhưng nếu nhân duyên. Đạt Xa-ma-tha Vẫn chưa gom đủ, Thì dù thiền chỉ Kiên trì liên tục Trăm ngàn vạn năm Vẫn không thể nào Khiến tâm an định 40 Vậy phải cố gắng Gom đủ yếu tố Đạt Xa-ma-tha Như đã ghi trong Công Đức Thiền Chỉ. Hãy chọn đề mục Để mà nhiếp tâm.
41 Bao giờ thành tựu Được Xa-ma-tha, Khi ấy cũng sẽ Thành tựu được Định. Nhưng nếu còn thiếu Tuệ giác toàn hảo, Vẫn không thể nào Tận diệt tất cả Các loại chướng ngại.
42 Muốn dẹp tất cả Chướng ngại áng ngữ Giải thoát, Giác ngộ, Phải luôn tu Tuệ Kết hợp cùng với Phương tiện thiện xảo.
43 Tuệ thiếu Phương tiện Phương tiện thiếu Tuệ Đều thành dây trói Ràng buộc luân hồi. Vì vậy cần phải Kết hợp cả hai.
44 Để tan nghi vấn Về ý nghĩa của Trí Tuệ, Phương tiện, Thầy sẽ nói rõ Về sự khác biệt Giữa hai điều này.
45 Chư Phật dạy rằng Ngoài hạnh thứ sáu Là Tuệ Toàn Hảo, Năm hạnh còn lại, Kể từ hạnh Thí Cho đến hạnh Định Đều là Phương tiện.
46 Bất cứ là ai Thuần dưỡng Phương tiện Vận dụng trí Giác Quán Tuệ Toàn hảo Sẽ chóng thành tựu Vô thượng bồ đề; Chứ không thể chỉ Quán về vô ngã Mà thành tựu được.
47 Thấy được các uẩn Và căn, thức, trần Đều là vô sinh, Nhờ đó chứng ngộ Tất cả các pháp Đều không tự tánh : Đó là Trí Tuệ. 48 Nếu như tự tánh Của một vật gì Là thật sự có Thì chính vật ấy Vốn không làm sao Có thể phát sinh. Nếu như tự tánh Của một vật gì Là thật sự không Thì giống như hoa Hiện ra giữa trời, Vốn không có gì Để mà nói tới. Cả hai điều này Phi lý như nhau. Sự vật khởi sinh Vốn không như vậy.
49 Sự vật sinh ra Không phải tự sinh; Cũng không phải do Yếu tố bên ngoài Mà phát sinh ra; Cũng không phải từ Hai điều nói trên Mà phát sinh ra; Cũng không phải là Không có nguyên nhân Mà phát sinh ra. Sự vật sinh ra, Vốn không tự tánh.
50 Quán chiếu tận tường Tất cả các pháp Xem là đồng nhất Hay là dị biệt, Sẽ không thể thấy Có một pháp nào Hiện hữu độc lập. Nhờ đó thấy rõ Các pháp hoàn toàn Không có tự tánh.
51 Bảy mươi chỉnh cú Tụng về tánh Không Hay Luận Trung Quán Của ngài Long thọ Đều giải thích rằng Chân tánh các pháp Chính là tánh Không. 52 Biển luận văn này Vô cùng phong phú Thầy không thể trích Hết cả ra đây, Chỉ xin tóm lược Đôi câu kết luận Xác định tông môn, Tiện cho các con Thiền quán tu hành.
53 Quán về vô ngã, Thấy ra sự vật Không có tự tánh: Đó là tu Tuệ. 54 Vận dụng Trí Tuệ Mà quán vạn pháp, Sẽ không thể thấy Pháp có tự tánh. Tương tự như vậy, Quán về Trí Tuệ Sẽ thấy Trí Tuệ Cũng không tự tánh. Các con hãy gắng Siêu việt khái niệm Mà quán như vậy.
55 Toàn bộ cõi sống Đều từ khái niệm Mà phát sinh ra Vì vậy cõi sống Vốn thật chỉ là Khái niệm phân biệt Tách lìa phân biệt Là đại niết bàn
56 Đức Phật nói rằng Khái niệm phân biệt [Chấp có tự tánh] Là đại Vô minh, Ném chúng ta vào Luân hồi sinh tử. Tách lìa phân biệt, Nhập định vô niệm, Khi ấy cảnh giới Siêu việt khái niệm Tựa như không gian Hiện ra trong sáng. 57 Trong Đà la ni Nhập tâm vô niệm, Đức Phật dạy rằng; "Nếu chư bồ tát Con của Như lai Lìa tâm phân biệt Để mà quán chiếu Thì dù khái niệm Khó vượt đến đâu Cũng sẽ từng phần Vượt qua được cả, Bước vào cảnh giới Siêu việt khái niệm. 58 Có được trí tuệ Đến từ học hỏi Và từ tư duy [Văn tuệ, Tư tuệ], Hiểu rằng các pháp Không từng khởi sinh, Không có tự tánh, Khi ấy các con Từ sự hiểu này Mà thiền chỉ quán Siêu việt khái niệm.
59 Chỉ quán cảnh giới Chân thật như vậy Sẽ tiến từng phần Trên đường giác ngộ Thành tựu "nội hỏa" Thành tựu "đại lạc" Cùng những điều khác. Rồi chẳng bao lâu Sẽ thành tựu được Vô thượng bồ đề.
60 Nếu muốn mau chóng Tích tụ tư lương Thành tựu bồ đề, Có thể nương nhờ Năng lực minh chú, Hành trì các pháp Hàng phục, tăng trưởng.
61 Đồng thời nương vào Năng lực của tám Thành tựu vĩ đại, Hay thành tựu khác, Ví dụ như là Đại định Bình Quí, Nếu muốn bước vào Con đường tu Mật, Thuận theo các bộ Nghi Thức, Lễ Bái,
62 Và nếu muốn nhận Đại pháp quán đảnh Đạo sư Kim Cang, Phải đối với thầy Hết lòng tận tụy, Phụng sự, cúng dường, Chăm chỉ làm theo Những điều thầy dạy.
63 Đạo sư hoan hỉ Ban cho đại pháp Quán Đảnh Đạo Sư, Khi ấy tất cả Ác nghiệp chướng ngại Đều tiêu tan cả. Tâm sáng thanh tịnh, Đồng vị niết bàn.
64 Trong Đại Mật Kinh Đức Phật Bản Lai Hết lòng nghiêm dạy Các vị tỷ kheo Và tỷ kheo ni Giữ giới thuần tịnh Tuyệt đối không được Nhận hai mật pháp Quán đảnh Kín mật, Quán đảnh Trí tuệ.
65 Là người giữ gìn Phạm hạnh thanh tịnh Mà nhận hai pháp Quán đảnh nói trên Là phá giới hạnh.
66 Nếu như đang giữ Phạm hạnh nghiêm mật Mà nhận pháp này Là phá hủy giới, Sa đọa trầm luân Tận cùng ác đạo, Không thể có được Chút thành tựu nào.
67 Tuy vậy nếu là Nhận pháp quán đảnh Đạo Sư Kim Cang Thể hội Chân Như Thì vẫn có thể Nghe giảng mật pháp, Hay tự mình giảng, Thi hành nghi lễ Thiết lập đạo tràng, Cúng lửa, sám hối, Mà không phạm lỗi.
68 Tôi là trưởng tử Shri Dipamkara, Đã học điều này Từ nơi kinh luận. Vì lời yêu cầu Của Jangchub O Mà viết ra đây Bài giảng ngắn gọn Vạch ra đường tu Tuần tự giác ngộ.
Lời ghi xuất xứ Đến đây chấm dứt bài kệ Đèn Soi Đường Giác Ngộ do đại đạo sư Dipamkara Shri Jnana [Atisha] soạn và đích thân dịch sang Tạng ngữ với sự góp sức của vị tỷ kheo dịch giả người Tây tạng tên Geway Lodro. Bài pháp này được viết tại tu viện Tholing ở Zhang Zhong. Hồng Như chuyển Việt ngữ tháng 07/2005, dựa trên bản dịch Anh ngữ của Alexander Berzin, 1980, tham khảo với bản dịch của Ruth Sonam, Dharamsala, 01/1997 và của Gonsar Tulku và Brian C.Beresford (1975, 1976, 1978). |