| Sổ Tay Học Trò: Qui Y Phật Pháp Tăng [1] |
|
|
|
Thể Loại / Genre: Sổ Tay Học Trò - Student Notes Sổ Tay bao gồm những đề tài sau đây: [Qui Y] - [Phật] - [Pháp] - [Tăng] Thâu Âm MP3 bài giảng TạngAnhViệt lưu trữ tại đây [OPEN HERE]- MP3 Recording of teachings in Tib-Eng-Viet This is not a transcript of the teachings, only notes from students based mainly on Geshe Thubten Dawa teachings, part 1, 2 and 3, added with a few clarifications coming from Kirti Tsenshab Rinpoche teachings on the Uttaratantra on the same topic.
QUI Y TAM BẢO
Bất kể một công phu hành trì Phật giáo đại thừa nào cũng phải có đủ 3 phần: Vậy trước tiên thầy sẽ giảng về công phu Qui Y Tam Bảo. Dù là tụng theo ngôn ngữ nào, Tạng, Phạn, Anh, hay Việt mặc dầu, nội dung lời qui y vẫn như nhau: Con về nương dựa Phật, Qui y là nương dựa. Vậy qui y Tam Bảo là nương dựa Phật, Pháp và Tăng. Gọi là Bảo, vì đây là vừa quí, vừa hiếm. Ý nghĩa của Tam Bảo có nhiều mức độ. Có nghĩa thông thường (common) là ý nghĩa phần lớn ai cũng đã biết. Lại có nghĩa phi thường (uncommon), chỉ thấy nói trong Đại thừa. Ở đây thầy giảng về nghĩa phi thường của Tam Bảo. Muốn qui y, ít ra phải biết mình qui y những gì. Không rõ là gì mà qui y thì chẳng có ý nghĩa gì cho lắm. Như vậy công phu qui y sẽ rất khô cằn, không nhiều lợi ích. Tâm qui y có vững chắc thuần tịnh hay không, tùy mình có hiểu rõ đối tượng qui y hay không. Biết Tam Bảo là gì, vì sao nên qui y, qui y thì được lợi ích gì. Càng hiểu rõ về Tam Bảo thì tâm qui y lại càng thêm vững chắc. Ghi chú bên lề: cuối buổi học thứ hai, hỏi thầy thì biết ý nghĩa Tam Bảo thầy dạy dựa vào luận giải kinh Bát Nhã của đức Di Lạc, do ngài Vô Trước biên soạn. Nằm ở hai bộ luận Uttaratantra và Hiện Quán Trang Nghiêm. Như vậy không những là ý nghĩa tam bảo ở đây là của Đại thừa, mà còn là Đại Thừa Trung Quán Tông. Theo đức Dalai Lama thì đây là tông phái trình bày chân tướng của thực tại một cách chính xác nhất.
PHẬT Định nghĩa Phật, tiếng Tây tạng gọi là San-gye Âm đầu, "San", có nghĩa là đoạn diệt tất cả những gì cần đoạn diệt, nghĩa là đoạn diệt toàn bộ phiền não chướng và trí chướng [còn gọi là sở tri chướng, nghĩa là chướng ngại đến từ tập khí phiền não, làm ngăn ngại trí toàn giác] Vậy Phật, hay Sangye, có nghĩa là tâm giác ngộ, hay là người giác ngộ, rốt ráo đoạn diệt mọi chướng ngại, thành tựu mọi thiện đức. Đức Phật như vậy có đủ tám phẩm chất như sau: (Phật) 1. Tự Tánh Thân: Svabhavakaya Bản tánh tự nhiên thanh tịnh này là chân tánh của tâm Phật, và cũng là chân tánh của tâm của chúng sinh, là vì tánh không của tâm Phật và tánh không của tâm chúng sinh vốn đồng như nhau. Khác nhau chỉ ở chỗ tâm của chúng ta bị chướng ngại ngăn che mắt tuệ nên không có khả năng thấy được chân tánh của mình. Vì chân tánh của tâm Phật và chân tánh của tâm chúng sinh giống nhau, cho nên chúng sinh có khả năng tu thành Phật. Và vì Phật đã thoát mọi chướng ngại còn chúng sinh thì còn bị đủ loại chướng ngại ngăn che, cho nên chúng sinh vẫn phải tu mới thành Phật. Để hội nhập chân tánh, phải dựa vào tín tâm: một lòng hướng về Phật, hướng về chân tánh Tâm Phật vốn có trong tâm của mình. Tâm hướng Phật là điều giúp chúng ta hiển lộ chân tánh của mình. Cho nên cần hiểu rõ phẩm chất thứ nhất này của Phật để hiểu rằng bản tánh tâm mình và bản tánh tâm Phật vốn không khác, từ đó có được niềm tin xác quyết là mình có thể thành Phật, tự tin nơi bản tánh của tâm mình để mà khởi chí nguyện muốn thành Phật. (Phật) 2. Trí Pháp Thân: Jnana-Dharma-kaya Phẩm chất thứ hai, là trạng thái tách lìa chướng ngại ô nhiễm của tâm Phật. Vì tách lìa mọi chướng ngại ô nhiễm, nên tâm Phật tỏa ra cùng khắp không ngăn ngại. Biết đúng, đủ, cùng khắp, nhiệm vận hoạt dụng, không chút dụng công. Nói nhiệm vận hoạt dụng là nghĩa gì? Thầy Kirti Tsenshab Rinpoche giảng trong Uttaratantra nói rằng, ví dụ chúng ta khi muốn làm một việc gì thì phải suy nghĩ, quyết định, rồi thực hiện v.v... làm một việc nhỏ cũng cần rất nhiều giai đoạn, nhiều công sức. Còn Tâm Phật vì không còn ngăn ngại, nên việc Phật làm luôn tự nhiên không gián đoạn, không tác ý, không khởi cộng, tự động và tức khắc xong ngay. Vì vậy mà gọi là nhiệm vận hoạt dụng. Khác với phẩm chất thứ nhất, phẩm chất thứ hai này do nhân duyên mà có. Nhân duyên như thế nào? Bồ tát tận cùng địa vị (địa thứ 10) nhập đại định, quán tánh không, cho đến khi trí chướng vi tế cuối cùng tan biến hết, vào ngay thời điểm đó, từ điểm tâm thức chúng sanh cuối cùng trong dòng tâm thức của đại bồ tát đoạn dứt, chuyển thành trí Phật. Ví như quét nhà, còn bụi thì còn quét, hết bụi thì nhà sạch. Tương tự như vậy, chướng ngại xả bỏ trọn vẹn rồi, cái còn lại là trạng thái vắng bặt mọi chướng ngại ô nhiễm. Trạng thái sau khi dẹp sạch mọi chướng ngại, đó chính là Trí Pháp Thân, là phẩm chất thứ hai nói ở đây.. Nói cách khác, Tâm giác ngộ của Phật, chúng ta không thể chứng biết bằng cách nghe người khác nói, hay là học hỏi tư duy. Không thể dựa vào văn tuệ, tư tuệ để mà chứng biết, mà bắt buộc phải nhờ tu tuệ, nghĩa là phải nhập định, nhiếp tâm quán tánh không, quán chân tánh của tâm, rồi từ trong định quán tánh không mà chứng biết. Ba phẩm chất nói trên của Phật (1, 2, 3) đều là Tự Lợi. (Phật) 4. Đại Trí (Phật) 5. Đại Bi (Phật) 6. Đại Lực Tiếp theo là hai phẩm chất nền tảng của 6 cái trên (Phật) 7. Tự Lợi Ghi chú: Như vậy 8 phẩm chất của Phật, 3 cái đầu ứng vào với Pháp Thân, ba cái sau ứng vào với Sắc Thân, đầy đủ tính tự lợi, lợi tha. Trong tâm của Phật,có đại bi hướng về tất cả chúng sinh, nên mọi điều Phật làm, đều là vì chúng sinh; lại có đại trí, là trí toàn giác biết đúng và đủ, nên Phật có khả năng chỉ cho chúng sinh biết điều gì cần bỏ, điều gì cần theo. Vì có đại bi và đại trí nên Pháp của Phật dạy là điều chắc thật, không hư ngụy, không sai lầm. Đức Phật như vậy được gọi là đấng Thế Tôn, Bhavagan, xứng đáng cho chúng ta tin tưởng, nương dựa.
PHÁP
Định nghĩa Ba phẩm chất nói trên của Pháp (1, 2, 3) đều là diệt đế Đây là cái tâm chủ thể sau khi đoạn diệt nhị chướng. Nói "chủ thể" cũng là tạm dùng chữ để diễn tả cái tâm làm nhân tố tách lìa chướng ngại. [subjective mind] Pháp có tám phẩm chất quí hiếm như vậy. Cần tìm hiểu cho sâu cho tận tường, để có thể khởi tâm qui y thuần tịnh nơi Pháp.
TĂNG
Định Nghĩa Tăng như vậy phải là hành giả Đại thừa, từ Kiến Đạo trở lên. Giải thích thêm: Hành giả Đại thừa ở giai đoạn gia hành đạo, nhập định quán vô ngã. Vô ngã có nhiều mức độ, ở đây là nói đến tâm vô minh căn bản, bẩm sinh chấp có một thực tại khách quan độc lập và cố định. Vô ngã như vậy bao gồm vô nhân ngã và vô pháp ngã, là tánh không của Đại thừa. Hành giả nhập định quán tánh không như vậy, đến khi thấy được tánh không qua kinh nghiệm trực chứng, ngay thời điểm ấy bước vào kiến đạo, nhập địa bồ tát thứ nhất. Người tu như vậy thuộc về Tăng Bảo Bồ tát vào kiến đạo vì đã chứng được tánh không, cho nên đã nắm được liều thuốc hóa giải vô minh căn bản, có khả năng hóa giải chướng ngại (phiền não chướng và trí chướng), không còn thoái chuyển, vì vậy mà gọi là bậc thượng nhân, thuộc hàng Tăng bảo. Tuy nhiên, có thuốc hóa giải nhưng vẫn chưa phải là hóa giải được cả, phải từng phần hóa giải kể từ Kiến đạo cho đến địa vị Phật thì hóa giải trọn vẹn. Vì vậy tám phẩm chất của Tăng Bảo, Phật có được toàn phần, còn các bậc thượng nhân kiến đạo đại thừa chỉ mới có từng phần. Nói về Tăng Bảo cứu cánh và Tăng Bảo qui ước: Tăng Bảo qui ước là những bậc thượng nhân, bồ tát từ kiến đạo trở lên. Còn Tăng Bảo cứu cánh, thì không phải ứng vào con người, mà là ứng vào trạng thái tối hảo của tâm thức, là diệt đế và đạo đế trong tâm Phật, nói cách khác, là trạng thái tâm mà tất cả những gì cần đoạn diệt đều đã đoạn diệt, tất cả những gì cần viên thành thì đều đã viên thành. Phẩm chất Ba phẩm chất nói trên của Tăng (1, 2, 3) là nói đến khía cạnh giác ngộ của tâm Phật Hành giả nhập định trực chứng tánh không, từng phần đoạn diệt cho đến dứt hết mọi chướng ngại. (Tăng) 4. Đoạn diệt tham chướng (Tăng) 8. Siêu thoát
Tiếp theo thầy Dawa giảng thêm về Phật qua cách trình bày khác, nói về những phẩm chất tuyệt bậc của Phật qua Thân, Khẩu và Ý. Thầy chỉ nói sơ lược, thân Phật có 32 tướng hảo chính, 80 tướng phụ, biểu hiện con người phi thường. Khẩu Phật có 60 diệu âm, ví dụ có khi Phật thuyết pháp thì bất kể người căn cơ cao thấp gì cũng đều được lợi ích. Ý Phật có 10 lực, 4 vô úy, biết rõ căn cơ chúng sinh, biết nói ngôn ngữ của chúng sinh, đại từ đại bi đại hỉ đại xả v.v... Thầy khuyến khích học trò ra công tìm hiểu càng rõ càng tốt về Phật, nếu không thể biết hết mọi chi tiết về Thân Khẩu Ý của Phật, ít ra cũng phải biết rõ về 8 phẩm chất nói ở đây, về Tự Tánh Thân, Trí Pháp Thân, về sự không thể nghĩ bàn, về Đại Trí, Đại Bi và Đại Lực của Phật. Nếu đối tượng qui y không có Trí, thì làm sao biết chúng ta cần gì để mà giúp? Nếu không có Bi, thì đã chẳng muốn giúp chúng ta, nếu không có Lực, thì đã chẳng có khả năng giúp. Nếu đối tượng qui y thiếu những phẩm chất nói trên, thì qui y chỉ hoài công. Vì vậy phải tìm hiểu cho rõ về đối tượng mà chúng ta qui y. Qui y Phật, là qui y 1 đức Phật với đầy đủ những phẩm chất như vậy, rất đặc biệt, quí hiếm, xứng đáng cho chúng ta qui y, vì không hư ngụy, không giả dối, đầy đủ khả năng. Cuối buổi giảng thầy đọc câu kệ thỉnh Phật, ý nghĩa như sau: Với Đại Trí, xin Phật thương tưởng đến con [Hết bài giảng 1, 2, 3] Với lời nguyện cát tường. |