Who's Online?

We have 153 guests online
Giáo Pháp / Teachings Sổ Tay Học Trò Sổ Tay Quán Tưởng: Pháp Tu Ngondro
Sổ Tay Quán Tưởng: Pháp Tu Ngondro Print E-mail

Bản Cập Nhật 13/12/2010

Dựa theo bài giảng của ngài SONAM TENZIN RINPOCHE

Hồng Như biên tập

Instructions on Karma Kagyu Ngondro Practice

PHÁP TU NGONDRO

SỔ TAY QUÁN TƯỞNG

Karma Kagyu Lineage Tree / Gốc Cây Quy Y Dòng Karma Kagyu

Sổ Tay Quán Tưởng ghi lại chi tiết quán tưởng khi hành trì pháp tu Ngondro, là tài liệu dành cho những ai đang hành trì theo pháp Ngondro dưới sự hướng dẫn của ngài Sonam Tenzin Rinpoche. Cần dùng chung với Nghi quĩ Pháp Tu Ngondro Thâu Âm Tụng Niệm Ngondro.

Notes on Visualisation are reserved to students practicing Ngondro, according to the Karma Kagyu lineage, under the guidance of Sonam Tenzin Rinpoche.These notes are to be used together with
the Karma Kagyu Ngondro Sadhana
and the Ngondro Sadhana Chanting

VIETNAMESE ONLY - ENGLISH IS NOT AVAILABLE FOR THIS TEXT

[Hạ Tải bản pdf - Download the pdf file]


Sổ Tay Quán Tưởng pháp Tu Ngondro-  Notes on Visualisation

Nội dung:

NGONDRO 1: QUY Y & LỄ LẠY [Nhấn Vào Đây - Click Here]
NGONDRO 2: PHÁP TU KIM CANG TÁT ĐỎA [Nhấn Vào Đây - Click Here]
NGONDRO 3: CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA [Nhấn Vào Đây - Click Here]
NGONDRO 4: ĐẠO SƯ DU GIÀ [CHƯA CÓ - BỔ TÚC SAU]

 


Lời Người Dịch: ĐÔI DÒNG VỀ PHÁP TU NGONDRO

Translator's note: about Ngondro Practice

Tập sách này thuộc thể loại Sổ Tay Học Trò, biên tập phương pháp hành trì dựa vào bản ghi âm và đánh máy các bài giảng của ngài Sonam Tenzin Rinpoche về pháp tu Ngondro theo dòng truyền tthừa Karma Kagyu trong khoảng thời gian 2009-2010. Sách này dành cho Phật tử đã phát nguyện hành trì Ngondro cùng Sonam Tenzin Rinpoche. Cần đọc chung với chánh văn nghi quĩ Ngondro.

Pháp Tu Ngondro được gọi là pháp tu sơ khởi. Đây là nền tảng của mọi pháp hành. Pháp Tu Ngondro bao gồm bốn pháp quán niệm chuyển tâm và bốn pháp hành phi thường.

Bốn pháp quán niệm chuyển tâm là:

1. Quán kiếp người quí hiếm;
2. Quán vô thường;
3. Quán nghiệp và nhân quả;
4. Quán khổ sinh tử luân hồi.

Bốn pháp hành phi thường là

Ngondro 1. Qui y: lạy Tam Bảo 111111 lạy;
Ngondro 2. Pháp tu Kim Cang Tát Đỏa: tụng 111111 lần chú Trăm Âm;
Ngondro 3. Pháp Cúng Dường Mạn Đà La: dâng 111111 lần mạn đà la;
Ngondro 4. Đạo Sư Du Già: tụng 111111 lần bài tụng thỉnh Đạo Sư.

Theo Sonam Tenzin Rinpoche, pháp tu này mọi người đều có thể hành trì, nhưng để đạt hiệu năng tối đa, người tu cần thọ pháp truyền khẩu và khai thị từ bậc thầy chân chính đủ khả năng truyền pháp.

Khi khởi tu, có thể hành trì đồng loạt, hoặc từng phần. Nếu là từng phần thì phải theo đúng thứ tự. Rinpoche khuyên nên hoàn tất pháp Ngondro 1 và 2 trước, sau đó đến pháp Ngondro 3, hoàn tất rồi mới khởi đầu Ngondro 4.

Nếu thân có bệnh không thể lạy Phật vẫn có thể hành trì Ngondro, xin thỉnh ý Rinpoche để xin lời hướng dẫn riêng.

Xin lưu ý: mỗi đạo sư đều duyên nơi đệ tử mà ấn định qui tắc hành trì và đếm túc số. Qui tắc hành trì ở đây là của ngài Sonam Tenzin Rinpoche ấn định cho đệ tử đang hành trì theo sự hướng dẫn của ngài. Có thể có sự khác biệt so với lời hướng dẫn của các bậc đạo sư khác.

Nguyện nhờ vào tập sách này mà các bạn đồng tu được thuận duyên trên bước đường tu.

Hồng Như thông dịch và biên tập, tháng 12, 2010



 

LỢI ÍCH PHÁP TU NGONDRO

Advices on Ngondro Practice

Đức Gampopa ví thân người mà ta đang có đây quí như chén vàng ròng, nhưng nhiều đời nhiều kiếp lại dùng chứa chất độc. Tương tự như vậy, kiếp người quí giá lại dùng chứa phiền não tham sân si. Hành trì Ngondro là để chùi rửa chén vàng, xả hết chất độc. Sạch rồi mới có thể dùng chén vàng để chứa những chất liệu quí giá.

Pháp Ngondro bao gồm bốn pháp quán niệm chuyển tâm và bốn pháp hành phi thường. Tu bốn pháp quán niệm chuyển tâm là để quay lưng với sinh tử, hướng tâm về chánh pháp. Tu bốn pháp hành phi thường là để tịnh ba cửa thân khẩu ý.

Pháp Ngondro thứ nhất là pháp qui y: người tu lạy Tam Bảo 111111 lần là tịnh thân nghiệp; thân nghiệp tịnh rồi thì cả việc ngồi thiền cũng sẽ dễ dàng, nhẹ nhàng hơn. Pháp Ngondro thứ hai là pháp Kim Cang Tát Đỏä người tu tụng chú Trăm Âm 111111 lần là để tịnh khẩu nghiệp. Cúng dường mạn đà la 111111 lần là để tịnh ý nghiệp, ý nghiệp nói ở đây, chính yếu là nghiệp tham chấp, pháp tu này có khả năng tịnh được.

Chướng nghiệp mà ta đã gieo qua ba cửa thân khẩu ý từ vô lượng kiếp tái sinh, đến nay dày kín như căn phòng tối, giữa đêm khuya, lại màn che cửa đóng, cảnh vật nhìn cách nào cũng không thể thấy. Cảnh tối tăm này là tâm của ta khi chưa hành trì pháp Ngondro.

Ba cửa thân khẩu ý chưa tịnh thì dù tu pháp nào tâm cũng chỉ như căn phòng tối, không thể thấy lối đi. Pháp Ngondro giúp vén màn, mở cửa, đưa ánh sáng vào phòng, mọi sự đều sẽ sáng sủa rõ ràng, bấy giờ bất kể tu pháp gì cũng sẽ đều mau chóng đạt kết quả.

Hoàn tất pháp Ngondro rồi tâm sáng, dễ tu.

Nói "hoàn tất" ở đây không có nghĩa là đếm cho đủ số. Lạy đủ 111111 lần chưa chắc đã hoàn tất được Ngondro. Số lượng không quan trọng bằng chất lượng. Chất lượng xác định bằng cách nào? bằng tâm của người tu. Vì lý do gì mà hành trì, hành trì với cái tâm như thế nào, đây là những yếu tố quyết định chất lượng công phu tu tập. Nếu hành trì để chứng minh rằng ta tu giỏi hơn bạn đồng tu, chạy theo tâm lý so đo, ganh ghen, tị nạnh, vì ganh đua mà hành trì, như vậy dù bỏ bao nhiêu thời gian công sức kết quả vẫn không nhiều.

Muốn kết quả lớn lao thì phải mở tâm rộng lớn. Cần thấu hiểu cảnh khổ trong sinh tử luân hồi để phát chí nguyện cầu giải thoát, thôi thúc tìm đường thoát ly mọi cảnh khổ trong cõi sinh tử luân hồi, không chỉ cho riêng mình mà là cho hết thảy chúng sinh cùng thoát khổ.

Phải với tâm nguyện khẩn thiết cầu thoát sinh tử để hành trì Ngondro, có được như vậy pháp hành mới đủ phẩm chất để hoàn tất pháp tu qua túc số ấn định.

Sonam Tenzin Rinpoche

Năm 2010


Dựa theo bài giảng của ngài

SONAM TENZIN RINPOCHE

Refuge and Prostration: Instruction on Visualisation

NGONDRO 1: QUY Y - LỄ LẠY

SỔ TAY QUÁN TƯỞNG

Kim Cang Trì

MỞ ĐẦU THỜI CÔNG PHU

1. Cúng dường Tam Bảo

Buổi sáng thức dậy, người tu rửa sạch tay, đến trước bàn thờ [Nếu vì đi xa hay vì bất cứ lý do gì không thể lập bàn thờ Phật, có thể lập bàn thờ lưu động: đặt hình Phật và ít phẩm cúng dường, sau thời công phu dẹp cất. Nếu bàn thờ lưu động cũng không thể, hãy đối trước Tam Bảo trong quán tưởng để hành trì Ngondro] rót nước cúng dường Tam Bảo rồi lạy ba lạy. Đọc Phụ Lục 1: Cúng Dường Tam Bảo để biết thêm chi tiết.

2. Thỉnh lực gia trì

Ngồi xuống tọa cụ theo thế kiết già. Dành vài phút thỉnh lực gia trì của đạo sư và chư tổ truyền thừa. Đọc Phụ Lục 2: Thỉnh Lực Gia Trì để biết thêm chi tiết.

3. Sửa tâm nguyện động cơ

Sau đó, quán xét động cơ vì sao ta muốn hành trì. Phải xét cho kỹ, quét sạch động cơ vị kỷ, quét sạch tâm lý hành trì vì lời khen tiếng chê. Hãy nghĩ đến quả giác ngộ giải thoát, vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Được vậy công phu hành trì mới có hiệu năng. Đọc Phụ Lục 3: Tâm Người Cầu Pháp để biết thêm chi tiết.


NGONDRO 1 - QUY Y - PHẦN ĐẦU (tr. 5 – 15)

Thời gian đầu, nên bỏ thời gian đọc kỹ nghi quĩ bằng tiếng Việt để hiểu và nhớ ý nghĩa. Khi hành trì hãy tụng trực tiếp bằng tiếng Tạng. Nên mở MP3 thâu âm Rinpoche tụng Ngondro để tụng theo cho quen. Bắt đầu lạy ít, tăng dần cho quen. Lót đầu gối và hai bàn tay, tránh gây tổn thương thân thể. Nếu có vấn đề sức khỏe khó lạy Phật, xin bàn với Rinpoche tìm biện pháp thích hợp.

Tụng trang 5 – 8: BỐN PHÁP QUÁN NIỆM CHUYỂN TÂM

Sau mỗi bài kệ, ngừng lại ít lâu để quán điều vừa đọc.

Tụng trang 9 – 11: GỐC CÂY QUI Y

Tụng xong trang 9 – 11, ngừng lại ít lâu để quán gốc cây qui y.

Quán cho rõ. Dựa theo tranh vẽ để quán tưởng, nhưng hình quán tưởng hiện trong tâm không phải là tranh vẽ mà toàn là ánh sáng, trong suốt như cầu vòng, sắc dạng rõ ràng nhưng không vật thể. Nếu khó quán, cứ hãy nghĩ rằng chư vị đều thật sự có mặt.

Chi tiết quán tưởng gốc cây truyền thừa như sau:

Ở khoảng không bao la trước mặt có một hồ nước rộng mênh mông [bằng nhiều quốc gia hợp lại]. Nước hồ là nước quý, có khả năng chữa lành mọi bệnh khổ. Xung quanh hồ nước là thảm cỏ xanh, mượt êm như nhung. Giữa hồ mọc lên một gốc cây đại thụ thuộc loại gỗ quí như chiên đàn hay trầm hương. Gốc cây có một thân chính giữa, bốn nhánh tỏa bốn hướng.

Nhánh Giữa: Chư Bổn sư và Chư Tổ sư

Nhánh giữa có

  • một pháp toà do tám sư tử tuyết đội lên;
  • bên trên là đài sen ngàn cánh, đài mặt trời và đài mặt trăng
  • ngồi trên là đấng bổn sư, mang sắc tướng đức Kim Cang Trì, thân mang sắc xanh dương đậm, tay phải cầm chùy kim cang, tay trái cầm chuông báu, với đầy đủ mọi trang sức.

Nếu đủ khả năng, hãy nên quán tưởng mọi đấng tổ sư truyền thừa. Nếu không đủ khả năng, quán tóm tắt như dưới đây:

  • trên đỉnh đấng bổn sư là đức Karmapa đời thứ nhất, tay kết ấn giáo hóa, cầm kinh điển và gươm báu;
  • bên trên là đức Gampopa, tay kết ấn tam muội, cầm ngọc như ý;
  • bên trên là đức Milarepa, tay trái cầm chén sọ chứa nước cam lồ, tay trái kết ấn xúc địa;
  • bên trên là đức Marpa, hai tay đều kết ấn xúc địa;
  • bên trên là đức Phật Kim Cang Trì,
  • với bên trái của Phật là đức Naropa, tay cầm chén sọ chứa nước cam lồ,
  • và bên phải của Phật là đức Tilopa, một cây cầm con cá, một tay búng ngón chuyển di thần thức,
  • xung quanh đầy ắp chư tổ dòng Karma Kagyu;

Nhánh Trước: Chư Bổn tôn Pháp chủ:

Trên nhánh phía trước là chư bổn tôn như đức Vajra-yogini, Cha-kra-sam-va-ra, Kalachakra v.v...

Nhánh Phải: Phật Bảo

[H3: đức Phật Thích Ca Mâu Ni]

Nhánh bên phải có

  • pháp tòa do tám con sư tử tuyết đội lên,
  • trên là đài sen ngàn cánh,
  • trên là đài mặt trời và đài mặt trăng,
  • trên là Đức Phật Thích Ca, khoát áo cà sa, tay trái bắt ấn tam muội cầm bình bát, tay phải kết ấn xúc địa;
  • xung quanh là 1000 vị Phật.

Nhánh Sau: Pháp Bảo

Nhánh cây phía sau là đầy đủ tam tạng kinh điển, mật điển, cái nguyên âm và phụ âm.

Nhánh Trái: Tăng Bảo

[H4: Đức Quan Âm Tứ Thủ]

Nhánh bên trái có:

  • pháp tòa do tám con sư tử tuyết đội lên,
  • trên là đài sen ngàn cánh,
  • trên là đài mặt trời và đài mặt trăng,
  • trên là đức Quan Âm Tứ Thủ, hai tay trước cầm ngọc như ý, tay phải cầm tràng hạt, tay trái cầm hoa sen,
  • xung quanh là 16 vị A La Hán.

Phía Trước: chư Hộ Pháp

Phía trước chư bổn tôn Pháp chủ là các vị hộ pháp như đức Mahakala 2 tay, 4 tay, 6 tay.... Chư hộ pháp sẽ hộ trì cho người tu thoát mọi chướng ngại trên đường tu, nội chướng, ngoại chướng, mật chướng.

Trên cao nữa, bên phải có:

  • đức Liên Hoa Sanh và chư tổ dòng Nyingma,
  • đức Atisa và chư tổ dòng Kadampa,
  • đức Kunga Nyingpo và chư tổ dòng Sakya;

Phía bên trái có

  • chư tổ bốn dòng Kagyu chính và tám dòng phụ

Trang 12 – 15: BÀI KỆ QUI Y

Trang 12 và 13: tụng 1 lần

Trang 14 và 15: tụng 3, 7, hay là 21 lần, tùy thời gian cho phép.


NGONDRO 1 - QUY Y - PHẦN GIỮA (tr. 14 – 15)

Tiếp theo, đứng lên lạy Phật đếm túc số. Tổng cộng cần 111111 lạy

Trong khi lạy, người tu phải

  • miệng liên tục tụng câu quy y trang 14-15;
  • tay lần chuỗi hạt ngắn để đếm túc số: lạy một lạy lần một hạt;
  • tâm quán theo bốn cụm quán tưởng dưới đây; nếu khó, hãy chia ra, mỗi lần quán theo một cụm, luân phiên thay đổi.

BỐN CỤM QUÁN TƯỞNG TRONG KHI LẠY PHẬT

1. Quán gốc cây qui y:

Như đã giải thích trong phần trên.

2. Quán tưởng chúng sinh xung quanh:

Khi lạy, đừng nghĩ rằng ta đang lạy một mình. Hãy tưởng tượng

  • bên phải là thân phụ đời này cùng tất cả những ai đã từng là cha ta trong mọi đời quá khứ;
  • bên trái là thân mẫu đời này cùng tất cả những ai đã từng là mẹ ta trong mọi đời quá khứ,
  • trước mặt là kẻ thù: những kẻ hại ta,
  • sau lưng là oan gia trái chủ: những kẻ bị ta hại,

Cứ thế hàng triệu triệu chúng sinh cùng lạy, cùng tụng câu qui y, âm thanh rền vang sáu cõi.

3. Quán tưởng tịnh thân khẩu ý:

  • chắp tay trên đỉnh đầu : quán mình thọ tinh túy của bổn sư;
  • chạm trán: quán tịnh thân nghiệp, thọ quán đảnh Hóa thân;
  • chạm cổ: quán tịnh khẩu nghiệp, thọ quán đảnh Báo thân;
  • chạm tim: quán tịnh ý nghiệp, thọ quán đảnh Pháp thân;
  • đưa trán, hai bàn tay, hai đầu gối chạm mặt đất: quán tịnh năm chất độc phiền não chuyển thành năm trí Phật;
  • đứng lên chắp tay trở lại: quán đưa chúng sinh thoát ác đạo, đạt niết bàn, vĩnh viễn đóng cửa ác đạo không còn ai rơi vào.

4. Quán tưởng tâm qui y:

Nguyện từ nay cho đến khi thành Phật, dù vui hay buồn, thuận hay nghịch, cũng đều luôn quay về nương dựa nơi Tam Bảo.

Tuần tự quán tưởng theo bốn cụm quán tưởng nói trên trong khi lạy đếm túc số.

Lạy xong, trở lại ngồi xuống tọa cụ.


NGONDRO 1 - QUY Y - PHẦN CUỐI (tr. 16 – 29)

Trang 16 – 18: THỌ BỒ TÁT GIỚI

Tụng 3 lần. Khi đọc phải phát bồ đề tâm, nguyện vì lợi ích chúng sinh mà thọ giới và giữ giới. Tụng xong lần thứ 3, hãy tưởng tượng mình đã nhận được giới [Người chưa thọ giới bồ tát thì không thể dùng câu kệ này để tự thọ giới. Thọ truyền khẩu Ngondro là đã thọ cả giới bồ tát. Câu kệ ở đây giúp người tu vãng hồi bồ tát giới nếu bị phá phạm.]

Trang 19 – 25: HƯỚNG NGUYỆN

Tụng với lòng chân thành

Trang 26 – 27: TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, CHO VÀ NHẬN (TONG LEN)

Tụng 3 lần.

Sau đó hành trì pháp Cho và Nhận [Tong Len]:

  • Hít vào, tưởng tượng tất cả khổ đau ác nghiệp ác chướng của tất cả chúng sinh thành một luồng khí đen theo lỗ mũi bên phải đi vào trong mình, phát tâm lãnh nhận mọi khổ nạn thay thế cho chúng sinh.
  • Thở ra, tưởng tượng tất cả mọi bình an hạnh phúc thiện nghiệp công đức của mình thành một luồng khí trắng sáng ngời theo lỗ mũi bên trái đi ra, phát tâm tặng cho hết thảy chúng sinh, nhờ luồng khí trắng thanh tịnh này, chúng sinh tịnh được hết mọi nghiệp chướng và sống hạnh phúc bình an.

Trang 28: TAN NHẬP

Tụng xong trang 28, ngưng lại ít lâu để quán tưởng.

Chi tiết quán tưởng quá trình tan nhập gốc cây qui y như sau:

  • Chư hộ pháp phía trước tan vào chư bổn tôn;
  • chư bổn tôn tan vào Phật bảo ở nhánh cây bên phải ),
  • Phật bảo tan vào Pháp bảo ở nhánh phía sau
  • Pháp bảo tan vào Tăng bảo ở nhánh bên trái
  • Tăng bảo tan vào đức Phật Kim Cang Trì ở trên cao
  • đức Phật Kim Cang Trì tan vào chư tổ truyền thừa, từng vị lần lượt, rối tan vào đấng bổn sư, mang sắc tướng của đức Phật Kim Cang Trì
  • Cuối cùng đức bổn sư Kim Cang Trì tan vào trong ta, thân khẩu ý của Phật và thân khẩu ý người tu trở thành bất khả phân chia.

Nếu không tiếp tục hành trì pháp Kim Cang Tát Đỏa thì tụng phần hồi hướng tr 118 – 120 để kết thúc thời công phu.

Trang 118 – 120: HỒI HƯỚNG

Nếu không tiếp tục hành trì pháp Kim Cang Tát Đỏa thì tụng phần hồi hướng tr 118 – 120 để kết thúc thời công phu. Có thể thêm lời hồi hướng riêng.

Chấm dứt thời công phu Quy y & Lễ lạy.

Hồng Như biên tập, bản hiệu đính 05/12/2010

Xin tìm đọc phần Ngondro 2, 34.


Ghi chú: Ngài Sonam Tenzin Rinpoche yêu cầu đệ tử như sau:

  • đếm túc số theo số lạy, không đếm theo số câu tụng qui y.
  • nếu ngưng Ngondro một hay nhiều ngày, sau đó trở lại hành trì vẫn có thể đếm tiếp, không cần phải đếm lại từ đầu.
  • Cho phụ nữ, gặp ngày bất tịnh vẫn tiếp tục hành trì.
  • Khi đang hành trì Ngondro, mỗi sáng không cần Thi Kệ Hướng Nguyện.
  • Nếu thân có bệnh, xin thỉnh ý Rinpoche, có thể tụng câu kệ qui y đếm túc số.


 

Dựa theo bài giảng của ngài

SONAM TENZIN RINPOCHE

Vajrasatva Practice: Instruction on Visualisation

NGONDRO 2

KIM CANG TÁT ĐỎA BÁCH TỰ CHÚ

SỔ TAY QUÁN TƯỞNG

[H6: Đức Phật Kim Cang Tát Đỏa]

VIETNAMESE ONLY


Kim Cang Tát Đỏa là pháp thứ hai trong bốn pháp Ngondro phi thường. Người tu có thể bắt đầu pháp Ngondro 2 sau khi hoàn tất Ngondro 1, hoặc tu cùng lúc hai pháp.

Mỗi ngày có thể hành trì từ 1 đến 4 thời công phu. Thời đầu tiên trong ngày bắt đầu bằng nghi thức đầy đủ. Những thời còn lại trong ngày, tùy ý chọn, hoặc như trên, hoặc vào thẳng trang 31.

Sau mỗi thời công phu đều phải hồi hướng.

Dưới đây là chi tiết hành trì pháp Ngondro 2, nghi thức đầy đủ.


MỞ ĐẦU THỜI CÔNG PHU

1. Cúng dường Tam Bảo

Buổi sáng thức dậy, người tu rửa sạch tay, đến trước bàn thờ [Nếu vì đi xa hay vì bất cứ lý do gì không thể lập bàn thờ Phật, có thể lập bàn thờ lưu động: đặt hình Phật và ít phẩm cúng dường, sau thời công phu dẹp cất. Nếu bàn thờ lưu động cũng không thể, hãy đối trước Tam Bảo trong quán tưởng để hành trì Ngondro.] rót nước cúng dường Tam Bảo rồi lạy ba lạy.Đọc Phụ Lục 1: Cúng Dường Tam Bảo để biết thêm chi tiết.

2. Thỉnh lực gia trì

Ngồi xuống tọa cụ theo thế kiết già. Dành vài phút thỉnh lực gia trì của đạo sư và chư tổ truyền thừa. Đọc Phụ Lục 2: Thỉnh Lực Gia Trì để biết thêm chi tiết.

3. Sửa tâm nguyện động cơ

Sau đó, quán xét động cơ vì sao ta muốn hành trì. Phải xét cho kỹ, quét sạch những động cơ vị kỷ, quét sạch tâm lý hành trì vì lời khen tiếng chê. Hãy nghĩ đến quả giác ngộ giải thoát, vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Được vậy công phu hành trì mới có hiệu năng. Đọc Phụ Lục 3: Tâm Người Cầu Pháp để biết thêm chi tiết.

4. Quy Y

Tụng nghi quĩ trang 529, tụng suông không lạy.


NGONDRO 2 - KIM CANG BÁCH TỰ CHÚ - PHẦN ĐẦU (tr 31 - 33)

Trang 31: QUÁN TƯỞNG ĐỨC KIM CANG TÁT ĐỎA

Tụng trang 31.

Xong, ngưng một lát để quán đức Kim Cang Tát Đỏa trên đầu.

Tùy ý chọn pháp quán "đồng loạt hiện khởi" hay "tuần tự hiện khởi". Quán đồng loạt hiện khởi: bỏ phần 1, nhảy thẳng vào phần 2.

Quán từng phần hiện khởi: bắt đầu từ phần 1, rồi phần 2.

1. Hoạt Hiện đức Kim Cang Tát Đỏa

[H7: Tuần tự quán tưởng]

Vì là pháp sám hối, hãy quán mình mang thân tướng bình thường.

Trên đỉnh đầu xuất hiện chữ PAM màu trắng.

PAM biến thành đài sen ngàn cánh trắng (không còn chữ PAM).

Trên đài sen hiện ra chữ AH màu trắng.

Ah biến thành đài mặt trăng (không còn chữ AH).

Trên đài sen và đài mặt trăng xuất hiện chữ HUM màu trắng.

HUM thành chùy kim cang màu trắng (không còn chữ HUM).

Giữa núm chùy kim cang hiện ra chữ HUM màu trắng.

Từ HUM phóng ánh sáng lớn tỏa khắp mười phương, trên đầu mỗi tia hào quang có các đấng Đà kì và Đà kỳ ni (không hành và không hành nữ) dâng phẩm cúng dường hương hoa đèn nhạc v.v... lên chư Phật mười phương. Chư Phật hoan hỉ tiếp nhận, tan vào các vị đà kỳ, đà kỳ ni; các vị này cũng tan vào luồng hào quang trở về lại chữ HUM nơi núm chùy kim cang trên đỉnh đầu ta.

Từ HUM lại phóng tỏa ánh sáng lớn, mang lực gia trì của chư Phật mười phương về khắp sáu cõi, đặc biệt là ba cõi dữ, địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, tịnh hóa nghiệp chướng chúng sinh nơi đó. Tịnh hết ác nghiệp ác chướng rồi, ba cõi biến thành Tịnh độ, chúng sinh thành Đức Kim Cang Tát Đỏa, tan theo luồng ánh sáng về lại chữ HUM nơi núm chùy kim cang trắng trên đỉnh đầu ta.

Chữ HUM và chùy kim cang bấy giờ thành Đức Kim Cang Tát Đỏa.

2. Đức Kim Cang Tát Đỏa và chuỗi minh chú

[H6]

Đức Kim Cang Tát Đỏa sắc tướng như sau:

  • một mặt,
  • hai tay, tay phải cầm chùy kim cang nơi tim, tay trái cầm chuông nơi bụng, chân trái thu vào, chân phải đưa ra, đặt trên đài sen, ngón chân cái chạm vào đỉnh đầu ta.
  • Ngài đeo 6 món trang sức [mũ miện, bông tai, chuỗi dài, chuỗi ngắn, thắt lưng, vòng tay chân] tượng trưng cho 6 hạnh ba la mật.
  • Thân tỏa ánh sáng trắng, rạng chiếu như trăm ngàn vầng dương chói ngời đỉnh núi tuyết.

Quán cho rõ.

Tiếp theo, quán đức Kim Cang Tát Đỏa như sau:

  • đầu: chữ OM màu trắng tượng trưng cho Hóa thân,
  • cổ: chữ AH màu đỏ tượng trưng cho Báo thân,
  • tim (thấp hơn vùng tim, ngay chính giữa) : chữ HUM màu xanh dương tượng trưng cho Pháp thân.

Nơi tim đức Kim Cang Tát Đỏa, [ngang tim, ngay chính giữa] có

  • đài sen màu trắng,
  • trên là chữ HUM màu trắng,
  • xung quanh chữ HUM là chuỗi bách tự chú (chữ viết ngược chiều kim đồng hồ, khi đọc, minh chú xoay xuôi theo khi chiều kim đồng hồ). Giữa hai âm có khe hở, tỏa ngời ánh sáng trắng.

[H10: chuỗi minh chú Trăm Âm, xoay theo chiều bên phải]

Bấy giờ, hướng về đức Phật Kim Cang Tát Đỏa, cất lời khẩn nguyện;

Trang 32-33: KHẨN NGUYỆN & QUÁN TƯỞNG

Tụng trang 32 để thỉnh đạo sư giúp sám hối

Tụng trang 33: chi tiết quán tưởng.

Hãy nghĩ rằng nhờ năng lực thỉnh cầu chân thành, từ chữ HUM nơi tim đức Kim Cang Tát Đỏa tỏa ánh sáng lớn đến cùng tận không gian thỉnh mời chư Phật đà bồ tát khắp mười phương ba thời về thành cả suối nguồn ánh sáng cam lồ [tựa vô số hạt tuyết trắng ngần] tan về lại chữ HUM. Từ HUM lại tỏa hào quang ánh sáng lớn về ba cõi ác đạo, tịnh nghiệp chúng sinh, tất cả tan về tánh không, thành đức Phật Kim Cang Tát Đỏa, rồi theo luồng hào quang thu hồi về lại chữ HUM.

Bấy giờ chuỗi minh chú khởi xoay theo chiều bên phải. Người tu bắt đầu tụng chú đếm túc số ở đây.


NGONDRO 2 – KIM CANG BÁCH TỰ CHÚ – PHẦN GIỮA (tr. 34 – 35 )

Tụng chú Kim Cang 100 Âm để đếm túc số. Tổng cộng cần tụng 111,111 lần.

Trong khi tụng chú, người tu nên ngồi thế kiết già, Kim Cang 7 Điểm, tay cầm tràng hạt ngắn để đếm, tâm giữ hình ảnh quán tưởng. Nếu quán không xuể, có thể chia thành nhiều cụm quán tưởng để lần lượt quán, như sau:


QUÁN TƯỞNG TRONG KHI TỤNG CHÚ TRĂM ÂM

1. quán sắc tướng đức Kim Cang Tát Đỏa trên đỉnh đầu người tu, với đủ mọi trang sức quí báu (như trên);

2. quán suối cam lồ tịnh nghiệp: từ nơi luân xa tim đức Kim Cang Tát Đỏa có chủng tự HUM và chuỗi minh chú xoay tròn theo chiều kim đồng hồ. Ánh sáng cam lồ trắng tươi như sữa non từ đó ứa ra. Đây là suối cam lồ như ý, từ từ dâng đầy ắp thân đức Kim Cang Tát Đỏa, ứa ra từ đầu ngón chân bên phải của ngài, rót xuống đỉnh đầu ta, vào trong thân ta, tẩy rửa hết mọi ác nghiệp thân khẩu ý của ta, tống khứ nhiễm uế ra ngoài qua các lỗ dưới:

  • tật bệnh bị tống ra dưới dạng máu mủ hôi thối;
  • tà ma ám chướng dưới dạng nhện, bò cạp, rắn rết;
  • ác nghiệp dưới dạng bùn dơ, bụi khói.

Chảy ra khỏi thân ta, biến thành dòng cam lồ như ý. Mặt đất bên dưới nẻ ra, vô số oan gia trái chủ vươn tay, há miệng đòi nợ cũ, suối cam lồ chảy xuống lòng đất, oan gia trái chủ thọ nhận suối cam lồ như ý, tâm trí thỏa thuê, mọi ước nguyện đều được viên toàn.

3. quán tri kiến thanh tịnh:

  • những gì mắt có thể nhìn thấy được đều thấy đó chính là đức Phật Kim Cang Tát Đỏa;
  • những gì tai có thể nghe thấy đều nghe thành âm thanh minh chú Trăm Âm;
  • ngoại cảnh bên ngoài, chúng sinh cư trú bên trong, đều là tịnh độ của đức Kim Cang Tát Đỏa.

Ba lần đầu tụng theo âm điệu chậm. Sau đó tụng nhanh.

Chuỗi minh chú ban đầu xoay chậm, về sau từ từ xoay nhanh.

Để hành trì pháp tu này, cần tụng chú Trăm Âm để đếm túc số (trừ phi Sư phụ có đích thân dặn dò điều gì khác)

om, vajrasattva samaya manupalaya, vajrasatva tvenopa tistha drdho me bhava / sutosyo me bhava, suposyo me bhava, anurakto me bhava, sarvasiddhim me prayaccha sarva karmasu ca me cittam sriyah kuru hum, ha ha ha ha hoh, bhagavan, sarvatathagata vajra ma me munca, vajri bhava, mahasamaya sattva, ah

Phiên âm tiếng Việt theo âm tụng của ngài Sonam Tenzin Rinpoche:

Ôm ben-dza xa-tô xa-mai-da / ma-nu-pa-lai-da
ben-dza xa-tô tê-nô-pa / tít-ta đri đô mê ba-wa
xu-tô-cai-ô mê ba-wa / xu-pô-cai-ô mê ba-wa
a-nu-rắt-tô mê ba-wa / xạt-wa xi-đim mê tra-yê-dza
xạt-wa-cạt-ma-xu dza mê / xư-tam shri-i-da / ku-ru hum
ha ha ha ha hô / băng-ga-wê / xạt-wa ta-ta-ga-ta / ben-dza
ma mê mun-dza / ben-dza ba-wa ma-ha sa-mai-da / xa-tô, A

Tụng xong chú Kim Cang Trăm âm, hoàn tất bằng chú Kim Cang Sáu Âm, 108 lần (nhưng không đếm túc số)

OM VAJRASATTVA HUM

Ôm Ben Dza Xa Tô Hum

Trong khi tụng chú Sáu Âm, quán tưởng nhờ suối ánh sáng cam lồ rót xuống từ ngón chân đức Kim Cang Tát Đỏa mà ta nay đã tẩy sạch tất cả cấu nhiễm, toàn thân sáng trong như khối pha lê, không còn các thành phần máu thịt. Oan gia trái chủ dưới lòng đất sâu đều mãn nguyện, thu tay ngậm miệng, thanh tịnh nghiệp chướng, vãng sinh tịnh độ. Mặt đất khép lại, cam lồ thôi không chảy xuống, ngược lại dâng đầy thân ta, trào ra đỉnh đầu, chạm vào đầu ngón cái của đức Kim Cang Tát Đỏa, khiến ngài mang cảm nhận đặc biệt bất khả tư nghì.

Ngay thời điểm này, phải nghĩ rằng mọi ác nghiệp ác chướng trong cả ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai hết thảy đều đã thanh tịnh.

NGONDRO 2 – KIM CANG BÁCH TỰ CHÚ – PHẦN CUỐI (tr. 36 – 38)

Trang 36 – 38: BỐN NĂNG LỰC SÁM HỐI

Tụng trang 36, 37 và 2 câu đầu trang 38. Vừa tụng vừa phát huy bốn năng lực sám hối:

Quán bốn năng lực sám hối:

  • Năng lực hối cải: hối hận lỗi lầm phạm phải trong cả ba thời quá khứ hiện tại và vị lai;
  • Năng lực quyết tâm dù phải bỏ tánh mạng cũng quyết không tái phạm;
  • Năng lực nền tảng: ở đây là nương nhờ năng lực đức Kim Cang Tát Đỏa;
  • Năng lực thực hành: ở đây là thực hành pháp Kim Cang Tát Đỏa.

Thiếu bốn năng lực sám hối này, công phu sám hối sẽ không có kết quả. Đủ bốn năng lực này, nghiệp chướng nhất định sẽ thanh tịnh, dù quán tưởng không rõ cũng vẫn có hiệu quả.

Tụng xong, nghĩ rằng đức Kim Cang Tát Đỏa chấp nhận lời thỉnh cầu, vô cùng hoan hỉ, mỉm cười và nói: “Hỡi đứa con của gia đình tôn quý, mọi ác nghiệp, ác chướng, phạm giới và phá giới của con đã được tịnh hóa.”

Trang 38: TAN NHẬP

Tụng 2 câu cuối trang 38 (dorje sem pa dak la...)

Ngưng một lát để quán tưởng quá trình tan nhập, như sau:

Đức Kim Cang Tát Đỏa tan vào đỉnh đầu ta. Nghĩ rằng thân, khẩu, ý tôi và thân khẩu ý của Phật Kim Cang Tát Đỏa là một: Phật từ bi trí tuệ thế nào, nay tôi cũng từ bi trí tuệ y thế ấy; Phật làm được bao nhiêu công hạnh, tôi cũng làm được bấy nhiêu công hạnh.”

Giữ ý thức như vậy trong khi đi, đứng, nằm, ngồi.

Giữ tri kiến thanh tịnh:

  • mọi người đều là Đức Kim Cang Tát Đỏa,
  • mọi âm thanh đều là minh chú,
  • mọi cảnh vật bên ngoài cùng chúng sinh cư trú bên trong đều là Tịnh độ của đức Kim Cang Tát Đỏa.

Trang 118-120: HỒI HƯỚNG

Nếu không tiếp tục hành trì pháp Cúng Dường Mạn Đà La Kim Cang thì tụng hồi hướng tr. 118 – 120. Có thể thêm lời hồi hướng riêng.

Chấm dứt thời công phu Kim Cang Tát Đỏa.

Hồng Như biên tập, bản hiệu đính 05/12/2010

Xin tìm đọc phần Ngondro 1, 34.

[H11]

Ghi chú: Ngài Sonam Tenzin Rinpoche yêu cầu đệ tử như sau:

  • đếm túc số theo chú Trăm Âm, không đếm chú Sáu Âm.
  • ngồi thế kiết già trước bàn thờ là tốt nhất, nhưng cũng có thể đi đứng nằm ngồi tụng chú Trăm Âm đếm túc số, với điều kiện giữ rõ hình ảnh quán tưởng.
  • nếu ngưng Ngondro một hay nhiều ngày, sau đó trở lại hành trì vẫn có thể đếm tiếp, không cần phải đếm lại từ đầu.
  • Cho phụ nữ, gặp ngày bất tịnh vẫn tiếp tục hành trì.
  • Nếu hành trì Ngondro thì mỗi sáng không cần hành trì Thi Kệ Hướng Nguyện.


 

Dựa theo bài giảng của ngài

SONAM TENZIN RINPOCHE

Mandala Offering: Instruction on Visualisation

NGONDRO 3

CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA

SỔ TAY QUÁN TƯỞNG

tạm ghi, sẽ hoàn thiện sau

[H12]

VIETNAMESE ONLY


Cúng dường Mạn Đà La là pháp thứ ba trong bốn pháp ngondro phi thường. Nên hoàn tất Ngondro 1 & 2 trước rồi mới bắt đầu pháp này.

Mỗi ngày có thể hành trì từ 1 đến 4 thời công phu. Thời đầu tiên trong ngày bắt đầu bằng trọn nghi thức. Những thời còn lại tùy ý, hoặc trọn nghi thức, hoặc vào thẳng phần cúng dường Mạn Đà La. Sau mỗi thời công phu đều cần hồi hướng.

Dưới đây là chi tiết hành trì pháp Ngondro 3, trọn nghi thức.

Xin lưu ý: phương hướng mạn đà la như trong bài thâu âm Ngondro khóa 1 không chính xác, Rinpoche đã điều chỉnh lại, khuyên người tu nên theo chi tiết quán tưởng nói ở đây chính xác hơn.

MỞ ĐẦU THỜI CÔNG PHU

1. Cúng dường Tam Bảo

Buổi sáng thức dậy, người tu rửa sạch tay, đến trước bàn thờ rót nước cúng dường Tam Bảo, lạy ba lạy.

Đọc Phụ Lục 1: Cúng Dường Tam Bảo để biết thêm chi tiết.

2. Thỉnh lực gia trì

Ngồi xuống tọa cụ theo thế kiết già. Dành vài phút thỉnh lực gia trì của đạo sư và chư tổ truyền thừa.

Đọc Phụ Lục 2: Thỉnh Lực Gia Trì để biết thêm chi tiết.

3. Sửa tâm nguyện động cơ

Sau đó, quán xét động cơ vì sao ta muốn hành trì. Phải xét cho kỹ, quét sạch những động cơ vị kỷ, quét sạch tâm lý hành trì vì lời khen tiếng chê. Hãy nghĩ đến quả giác ngộ giải thoát, vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Được vậy công phu hành trì mới có hiệu năng.

Đọc Phụ Lục 3: Tâm Người Cầu Pháp để biết thêm chi tiết.

4. Quy Y & Kim Cang Tát Đỏa

Tụng nghi quĩ trang 539, tụng suông không lạy.


NGONDRO 3 – CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA – PHẦN ĐẦU (tr. 40 – 54 )

Pháp khí cần có để tu pháp cúng dường mạn đà la:

  • 2 bộ mạn đà la: một bộ mạn đà la đặt trên bàn thờ (drugpay), một bộ mạn đà la dùng để dâng mạn đà la đếm túc số (chopay);
  • một vuông khăn lót mạn đà la khi rãi cúng;
  • hạt cúng: bằng vụn đá quí, vỏ ốc xà cừ, hoặc các loại gạo, ngũ cốc để rãi cúng mạn đà la (nếu dùng gạo hay ngũ cốc thì phải thay mỗi ngày, thay rồi không được tự mình ăn mà phải cho người nghèo hoặc rãi cúng chim thú; nếu dùng đá quí, lần đầu rửa sạch phơi khô, sau thỉnh thoảng mang ra rửa sạch rồi dùng tiếp);
  • khẩu trang che miệng khi cúng mạn đà la (có thể dùng khăn lụa Ka-ta trắng để che miệng);
  • một ít nụ hồng hoa ngâm nước, hoặc nước hương, đặt trong chén hay lọ nhỏ, dùng để tẩy uế mạn đà la.
  • tràng hạt dài để đếm túc số.

Trang 40 – 54: THIẾT LẬP MẠN ĐÀ LA DRUPAY

Ghi chú: Tùy ý chọn, hoặc mỗi thời công phu mỗi lập, hoặc lập một lần từ đầu, giữ lại cho đến khi hoàn tất túc số. Trong mọi trường hợp, nếu dời bàn thờ thì phải thiết lập lại.

1. Chuẩn Bị:

  • đặt lọ nước hồng hoa trước mặt;
  • ngồi thế bán kiết già, lót vuông khăn trên chân, trên khăn là hạt cúng (đá quí, vỏ ốc hay hạt ngũ cốc). Vuông khăn cần rộng để hứng hạt cúng, tránh rơi vãi ra ngoài.

2. Tẩy Uế Nền Mạn Đà La:

  • Tay trái cầm tràng hạt và nền mạn đà la drupay,
  • tay phải dùng ngón áp út búng nước hồng hoa lên nền mạn đà la,
  • đồng thời tụng chú tịnh hóa vào tánh không:

Ôm Vai-ra Ăm ri ta Hum Pây,

Ôm Sô Ba Va Xu Đa XẠt Va ĐẠt Ma Sô Ba Va Xu Đa Hum.

3. Quán Tưởng Ruộng Phước:

  • [rải ít hạt cúng lên nền mạn đà la]
  • tụng trang 40 – 41
  • ngưng lại ít lâu để quán tưởng ruộng phước, như sau:
  • Trên nền mạn đà la, từ trong tánh không hiện ra linh tự DRUM,
  • DRUM biến thành núi Tu Di, bốn đại bộ châu, tám trung châu,
  • Trên đỉnh Tu Di là điện ngọc, bên trong là ruộng phước, chính giữa là đức Phật Kim Cang Trì và chư tổ sư, phía trước là chư bổn tôn, phía trước nữa là chư tôn hộ pháp, ba phía là Phật, Pháp và Tăng: chi tiết giống như khi quán tưởng cây qui y, chỉ không có biển hồ và đại thụ mà nằm trong điện ngọc trên đỉnh núi Tu Di.
  • [Từ chủng tự nơi ba điểm trên thân, ánh sáng lớn phóng ra, thỉnh mời vô lượng trí tuệ tôn từ trú xứ về tan vào chư hạnh nguyện tôn trong mạn đà la. Tưởng tượng bây giờ chư vị đang thật sự có mặt nơi đây.]

4. Dâng Mạn Đà La Drupay

Trang 42: tụng chú 100 Âm 1 lần, vừa tụng vừa dùng cổ tay trong rà quanh viền mạn đà la, ba vòng theo chiều bên phải, nửa vòng theo chiều bên trái, tưởng tượng tất cả mọi ác nghiệp ác chướng đều được thanh tịnh.

Trang 43 – 45: vừa đọc vừa cúng Mạn đà la 37 Tụ, rãi hạt và quán tưởng theo thứ tự sơ đồ như sau:


Đông

Tây: chỗ người tu ngồi

[H13: Sơ đồ thứ tự rãi hạt cúng Mạn Đà La 37 Tụ]

  • Đông: đảo hình bán nguyệt, chất pha lê, biển trời màu trắng
  • Nam: đảo hình thang, chất ngọc lưu ly, biển trời xanh dương,
  • Tây: đảo tròn, chất ngọc ru-bi, biển trời màu đỏ
  • Bắc: đảo vuông, chất vàng ròng, biển trời màu vàng
  • Ở giữa là núi tu di, bên đỉnh là điện ngọc nơi có năm gốc qui y ở bên trong, phía trên cung điện là 13 địa.

Người tu đối trước mạn đà la Drupay trên bàn thờ để dâng mạn đà la thỉnh lực gia trì, do đó, chỗ người tu ngồi là hướng Tây, bên trái là hướng Bắc, bên phải là hướng Nam, trước mặt là hướng Đông (người tu ngồi hướng nào cũng được, cứ ngồi chỗ nào thì quán tưởng phía trước mặt là hướng Đông). Tụng bài cúng Mạn Đà La 37 tụ (tr. 43 – 45) bằng tiếng Tạng và rãi hạt theo hướng dẫn sau đây:

Rãi hạt lên nền mạn đà la, đọc:

om vajra bhumi ah hum

zhi nam par dak pa wang chhen ser gyi sa zhi

OM đất kim cang AH HUM - Đất thanh tịnh, đất vàng hùng vĩ

Rãi hạt theo chiều bên phải quanh viền mạn đà la, đọc

om vajra rekhe ah hum

chhi chak ri khor yuk gi ra we yong su kor way

OM tường thành kim cang AH HUM –

Vòng ngoài có núi vây quanh

Tiếp theo, rãi hạt theo thứ tự sơ đồ hướng dẫn

Bốn đại bộ châu:

1. u su rii gyal po ri wo chhok rap [Giữa]

2. shar lu p’hak po [ Đông]

3. hlo dzam bu ling [Nam]

4. nup ba lang cho [Tây]

5. jang dra mi nyen [Bắc]

TámTrung Châu:

6. lu dang 7. lu p’hak [Đông]

8. nga yap dang 9. nga yap zhen [Nam]

10. yo den dang 11. lam chhok dro [Tây]

12. dra mi nyen dang 13. dra mi nyen gyi da [Bắc]

14. rin po chhay ri wo [Đông:] núi châu bảo

15. pak sam gyi shing [Nam:] cây như ý,

16. do jo pa [Tây:] trâu như nguyện,

17. ma mo pay lo tok [Bắc] vụ mùa không cần cấy trồng

Tầng Một: (đặt vòng mạn đà la thứ nhất lên nền)

Tám biểu tượng vương:

18. khor lo rin po chhe 9. nor bu rin po chhe [luân xa quí, châu ngọc quí,]

120. tsun mo rin po chhe 21. lon po rin po chhe [hoàng hậu quí, thừa tướng quí]

22. lang po rin po chhe 23. ta chhok rin po chhe [voi quí, ngựa quí]

24. mak pon rin po chhe 25. ter chhen po bum pa [đại tướng quí và bình bảo tích quí]

Tầng hai: (đặt vòng mạn đà la thứ hai lên nền)

Tám vị thiên nữ:

26. gek mo ma 27. t’hreng wa ma 28. lu ma [Thiên nữ Đẹp, Thiên nữ Tràng hoa, Thiên nữ Bài Ca]

29. gar ma 30. me tok ma 31. duk po ma [Thiên nữ Điệu múa, Thiên nữ Bông hoa, Thiên nữ Hương đốt]

32. nang sal ma 33. dri chhap ma [Thiên nữ Đuốc sáng, Thiên nữ Hương thơm]

Tầng ba: (đặt vòng mạn đà la thứ ba lên nền)

34. nyi ma 35. da wa [nhật, nguyệt]

36. rin po chhay duk 37. chhok le nam par gyal way gyal ts’hen [tràng phang, bảo cái phất phới khắp mọi phương]

· tụng trang 46 – 54: nâng mạn đà la 3 tầng bằng hai tay khi tụng

· Xong, đặt mạn đà la Drupay vừa thiết lập xong lên bàn thờ

Xem hình vẽ mạn đà la sau:

[H14: quán tưởng mạn đà la]

 

NGONDRO 3 – CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA – PHẦN GIỮA

(tr. 43 – 54: 3 lần, trang 55 đếm túc số)

Trang 43 – 54: DÂNG MẠN ĐÀ LA CHOPAY

Đặt mạn đà la Drupay lên bàn thờ, trở lại chỗ ngồi, dùng bộ mạn đà la thứ hai để dâng cúng mạn đà la. Đối tượng cúng dường là mạn đà la Drupay trên bàn thờ với đầy đủ mọi nẻo qui y, (xem hình ở trang trước).

Cúng 3 lần mạn đà la 37 tụ, cách thức như sau:

Lần đầu:

1. Tẩy uế nền mạn đà la: Tay trái cầm nền mạn đà la chopay, tay phải dùng ngón đeo nhẫn búng nước hồng hoa lên nền mạn đà la, đồng thời tụng chú tịnh hóa vào tánh không:

Ôm Vai-ra Ăm ri ta Hum Pây,

Ôm Sô Ba Va Xu Đa XẠt Va ĐẠt Ma Sô Ba Va Xu Đa Hum.

2. Chú 100 Âm tịnh nghiệp: trang 42, vừa tụng dùng cổ tay trong chùi quanh viền mạn đà la ba vòng theo chiều bên phải, nửa vòng theo chiều bên trái, tưởng tượng mọi ác nghiệp ác chướng đều tịnh hết

3. Dâng Mạn Đà La 37 Tụ: trang 43 – 45: vừa đọc vừa rãi cúng Mạn đà la như trên, nhưng không cần nâng lên ba tầng, chỉ dùng nền mạn đà la.

4. trang 46 – 54: cầm mạn đà la trong tay, tụng từ trang 46 đến 54,

5. Xả mạn đà la

lần 2 và 3:

  • · lặp lại các bước 3, 4 và 5, thêm 2 lần.

Trang 55: DÂNG MẠN ĐÀ LA ĐẾM TÚC SỐ

  • Đếm túc số bằng chuỗi hạt dài cầm ở tay bên trái, cũng là tay cầm nền mạn đà la;
  • Cúng mạn đà la 7 tụ và quán tưởng theo đúng thứ tự để đếm túc số theo thứ tự như sơ đồ sau đây:

[H15: thứ tự rãi hạt cúng mạn đà la 7 tụ]

NGONDRO 3 – CÚNG DƯỜNG MẠN ĐÀ LA – PHẦN CUỐI (tr. 43 - 58 )

Trang 43 – 54: MẠN ĐÀ LA 37 TỤ

khi ngưng đếm, trở lại tr. 43-54, cúng thêm một mạn đà la 37 tụ. Nếu không đủ thời gian có thể miễn.

Trang 56 – 58: BẢY HẠNH PHỔ HIỀN

Trang 118-120: HỒI HƯỚNG

Nếu không hành trì phần Đạo Sư Du Già tiếp theo thì hồi hướng tụng trang 118 – 120. Tùy ý thêm vào lời hồi hướng riêng.

Chấm dứt thời công phu Cúng Dường Mạn Đà La

Hồng Như biên tập, bản hiệu đính 05/12/2010

Xin tìm đọc phần Ngondro 1, 24.

[H5]

Ghi chú: Ngài Sonam Tenzin Rinpoche yêu cầu đệ tử như sau:

  • đếm túc số bằng mạn đà la 7 Tụ, không đếm mạn đà la 37 Tụ.
  • nếu ngưng Ngondro một hay nhiều ngày, sau đó trở lại hành trì vẫn có thể đếm tiếp, không cần phải đếm lại từ đầu.
  • cho phụ nữ, gặp ngày bất tịnh vẫn tiếp tục hành trì.
  • nếu hành trì Ngondro thì mỗi sáng không cần hành trì Thi Kệ Hướng Nguyện.

 


 

 

 


 

 

Dựa theo bài giảng của ngài

SONAM TENZIN RINPOCHE

Mandala Offering: Instruction on Visualisation

NGONDRO 4

ĐẠO SƯ DU GIÀ

SỔ TAY QUÁN TƯỞNG

[H2]

VIETNAMESE ONLY


 

Pháp Đạo Sư Du Già là pháp thứ tư trong bốn pháp Ngondro phi thường. Đạo Sư Du Già vốn đã thuộc về lãnh vực của pháp tu chính, không còn là pháp sơ khởi.

Mỗi ngày có thể hành trì từ 1 đến 4 thời công phu. Thời đầu tiên trong ngày bắt đầu bằng nghi thức đầy đủ. Những thời còn lại trong ngày, tùy ý chọn nghi thức đầy đủ như trên, hoặc vào thẳng phần Đạo Sư Du Già. Sau mỗi thời công phu đều cần hồi hướng.

Dưới đây là chi tiết hành trì pháp Ngondro 4, nghi thức đầy đủ.

CHƯA CÓ, SẼ THÊM SAU

 


 

PHỤ LỤC 1:

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

[H16: bàn thờ cá nhân của Sonam Tenzin Rinpoche tại Sydney]

Vì sao phải hàng ngày cúng dường Tam Bảo?

Là Phật thử quy y Tam Bảo, hàng ngày chúng ta cần cúng dường Tam Bảo để tự nhắc nhở tâm quy y. Ngoài ra, cúng dường cũng là một phương pháp tích lũy công đức rất thù thắng. Không phải vì không cúng dường Phật sẽ bị đói khát: Phật vốn không cần phẩm cúng dường của chúng ta. Chỉ là nhờ vào Phật mà khi dâng phẩm cúng dường, chúng ta tích lũy được nhiều công đức.

Phẩm cúng dường có hai loại, một là cúng dường bằng phẩm vật cụ thể bày biện, hai là cúng dường bằng công phu quán tưởng.

Cúng dường không phải là việc phức tạp hay tốn kém. Chỉ cần lập một bàn thờ đơn giản, không cần nhiều tiền của, có được gì cũng đều có thể dùng làm phẩm cúng dường dâng lên Phật. Buổi sáng dâng phẩm cúng dường, buổi tối thu dọn, làm cho đúng cách, với cái tâm cho thật đúng đắn. Nhờ tâm đúng đắn khi dâng phẩm cúng dường mà tích lũy nhiều công đức, vì vậy không cần nhiều tiền của vẫn có thể rộng rãi cúng dường.

Nói về phẩm cúng dường

Cúng dường Tam Bảo phải trở thành một phần trong công phu tu tập hàng ngày. Bàn thờ giữ cho thật sạch, không để bụi bám, mỗi ngày lưu ý lau chùi sạch sẽ. Mỗi sáng thức dậy, rửa tay, che khẩu trang không để hơi thở làm ô nhiễm phẩm cúng dường, mang một bình nước đến trước bàn thờ. Chén nước hôm qua đã lau sạch úp sẵn trên bàn thờ, sáng nay mở từng chén rót nước vào. Khi rót có thể đọc minh chú cúng dường. Cúng nước rồi, đối trước bàn thờ lạy ba lạy. Cứ như vậy, buổi sáng dâng nước cúng dường, buổi tối dẹp nước, chùi chén cho khô sạch, úp trở lại trên bàn thờ. Đây là việc làm đơn giản, ai cũng có thể làm được.

Phần lớn chúng ta đều nghĩ rằng phải cúng phẩm đắc tiền mới được nhiều công đức. Thật ra công đức không đến từ giá trị của phẩm vật cúng dường mà đến từ giá trị của tâm người cúng dường. Tâm người cúng dường mới là yếu tố quyết định lượng công đức nhiều hay ít. Tâm không tham lẫn là cái tâm cần phải có khi cúng dường.

Nhiều người cho rằng cúng nhiều tiền thì được nhiều công đức. Nếu thật là như vậy, người không tiền làm sao cúng dường Tam Bảo? Vô lẽ không tiền thì không thể tích lũy công đức hay sao? Cũng có người mang nhiều tiền của cúng dường Tam Bảo, đến khi gia cảnh sa sút lại tiếc rẻ, phải chi đừng cúng nhiều như vậy. Những loại tâm lý như vậy đều là tâm lý khiến hao tổn công đức. Thực chất công đức không nằm ở giá trị của phẩm vật cúng dường mà nằm ở cái tâm không tiếc lẫn.

Nhiều Phật tử khi cúng dường thường mang tâm lý tham lẫn. Lấy ví dụ trường hợp đệ tử mua một cái chuông thật mắc tiền để cúng dường sư phụ, sau đó cứ mỗi lần đến chùa lại cứ nhấp nhổm nhìn xem sư phụ có dùng cái chuông của mình hay không, có thích nó hay không. Nếu sư phụ mang chuông tặng cho người khác, chắc chắn trong bụng sẽ không vui, nghĩ sao cái chuông mình tặng mà Thầy lại nỡ lòng đem cho người khác. Tất cả mọi trạng thái tâm lý này rất quen thuộc với chúng ta, mặc dù đã cúng dường nhưng vẫn tiếp tục giữ làm của mình, không xả được tâm lý tiếc lẫn. Chính tâm lý tiếc lẫn này sẽ khiến công đức bị chiết giảm trầm trọng, thậm chí không còn công đức gì lại còn tạo thêm ác nghiệp.

Vì lý do này mà cúng nước là phương pháp cúng dường cực kỳ thù thắng. Không ai mang nước ra cúng mà băn khoăn ít nhiều, mắc rẻ. Nước là món dễ kiếm, bất cứ một ai, dù giàu hay nghèo, đều đủ khả năng cúng mỗi ngày. Đây là phương pháp tạo công đức dễ dàng nhất, lại không bị tâm lý tham lẫn làm tổn hại công đức.

Muốn tu thì phải tích lũy nhiều công đức. Người giàu công đức khi tu sẽ chóng đạt kết quả. Công đức giúp tăng phước, tăng thọ, giúp mọi việc suôn sẻ dễ dàng. Cả trong đời sống hàng ngày cũng vậy, công đức rất cần thiết. Thử nhìn việc trong đời mà xem, nhiều người tài năng xuất chúng nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo, đó là vì thiếu công đức. Nếu chúng ta biết cách tích lũy công đức thì việc đời việc đạo đều sẽ rất thuận tiện suôn sẻ.

Hôm nay Thầy hướng dẫn quí vị phương pháp cúng nước này là để quý vị tích lũy công đức, hầu giúp đường tu của quí vị được mọi điều thuận tiện. Chỉ cần chút siêng năng là làm được, không tốn nhiều thời gian, không cần nhiều tiền của.

Lập bàn thờ rồi, xin quí vị quan tâm giữ bàn thờ cho thật sạch. Phải ngày ngày xem xét, chùi dọn, quét bụi. Thầy nghe có Phật tử nói rằng bàn thờ không được thường xuyên lau chùi, phải một năm mới được phép lau chùi một lần. Phong tục tập quán như vậy không biết đến từ đâu, nhưng không nên theo. Ngay như chúng ta đây là người thường, bàn ăn giường ngủ cũng phải giữ cho sạch, không thể nào một năm mới chùi dọn một lần. Bản thân mình phải sạch sẽ mới thấy thoải mái, huống chi là bàn thờ Phật. Nơi thờ Phật không thể nào để dơ hơn nơi ở của chính mình, không thể một năm chùi một lần. Quí vị nên hàng ngày lau chùi bàn thờ cho gọn gàng sạch sẽ.

Phẩm cúng dường cũng vậy, không cần món đắt tiền, nhưng đã cúng thì phải tùy khả năng mà chọn những gì tốt nhất, đẹp nhất và nhiều nhất để cúng dường. Cúng trái cây thì đừng mang cúng loại trái cây đã hỏng chính mình chê không ăn. Làm như vậy là không được. Hay như người Tây tạng cúng đèn bơ, đợi khi bơ hư mốc không ăn được nữa mới mang ra làm đèn cúng Phật là không được. Cúng Phật như vậy không những không được công đức mà lại còn gieo nhiều ác nghiệp. Phẩm cúng dường phải luôn là những món thanh sạch nhất, tươi tốt nhất.

Nói về tâm người cúng dường

Cúng dường được công đức hay không còn tùy nơi tâm người cúng dường. Vậy phải cúng dường bằng cái tâm như thế nào mới được nhiều công đức? Nếu cúng Tam Bảo với cái tâm cầu mong Tam Bảo hộ trì cho mình được giàu sang, cho mình hết bệnh tật, cho mình được điều này điều kia…cúng dường với cái tâm mong cầu hồi báo như vậy sẽ làm hao tổn công đức. Người cúng dường ít gì cũng phải nhớ về cảnh sống trong sinh tử luân hồi khi cúng dường, biết mọi sự trong cõi sinh tử luân hồi đều mang tính chất của khổ đau: khổ vì sinh, vì lão, vì bệnh, vì tử. Chúng ta là người ngụp lặn trong sinh tử luân hồi mà lại không hiểu về khổ đau của sinh tử luân hồi, không biết gì về khổ nạn của chính mình. Chư Phật, chư Bồ Tát nhìn vào cảnh sinh tử luân hồi, thấy chúng sanh khổ đau mà sinh lòng thương xót, đến nỗi nổ tung thành từng mảnh. Các vị thấy rõ, hiểu rõ nỗi khổ mà chúng sanh phải gánh chịu trong cõi sinh tử luân hồi. Còn chúng ta là kẻ chịu khổ sinh tử, vậy mà đối với khổ đau của chính mình lại không hay không biết. Loại khổ đau nào dễ thấy lắm thì còn hiểu được chút ít, còn đối với các loại khổ đau vi tế chúng ta lầm tưởng đó là an lạc hạnh phúc nên cứ mãi bám dính vào, không muốn buông ra.

Phải hiểu khổ sinh tử luân hồi thì mới phát tâm cầu thoát sinh tử luân hồi. Khi cúng dường, chí ít phải cúng dường bằng cái tâm cầu thoát sinh tử luân hồi, được vậy công đức mới đủ mạnh.

Có người đến nghe pháp, vừa nghe đã hiểu, vừa hiểu đã có thể hành trì, vừa hành trì đã đạt kết quả. Thuận tiện như vậy đều vào công đức. Muốn tu phải có công đức. Muốn nghe pháp, hiểu pháp, cũng phải có công đức. Vậy chúng ta phải quan tâm đúng mức đến việc tích lũy công đức. Cần biết cách cúng dường như thế nào để tạo nhiều công đức. Công đức phải dồi dào đường tu mới thoát chướng ngại, đạt kết quả.

Tám phẩm cúng dường

Bây giờ Thầy hướng dẫn phương pháp dâng tám phẩm cúng dường. [Cần tám cái chén, to nhỏ đều được, tùy khả năng tài chánh mà chọn chất liệu tốt nhất: vàng, bạc, đồng, pha lê, gốm sứ...].

Có thể dùng gạo để lót phẩm cúng dường. Trong trường hợp không tiện dùng gạo hay hạt ngũ cốc lót phẩm cúng dường – vì sinh ẩm mốc, hoặc vì vấn đề sâu bọ, ta có thể dùng vụn đá quí nhiều mầu.

Khi cho gạo hay đá quí vào lót chén, hãy chú ý đừng đổ quá đầy, trào ra ngoài không tốt, cũng đừng quá vơi, nhìn không đẹp. Phải vừa đủ [cách miệng chén bằng bề ngang một hạt gạo].

Khi bày chén, đừng để hai chén chạm vào nhau, cũng không cách nhau quá xa, giữ khe hở giữa vừa phải, đều đặn. Chén xếp thẳng hàng, đừng để xiên xẹo.

[H17: tám phẩm cúng dường]

Bày biện xong, nếu có bình báu [bumpa], có thể dùng nước trong bình để thanh tịnh phẩm cúng dường. Tịnh phẩm cúng dường là tịnh điều gì? Tịnh tâm lý tham chấp khi cúng. Nếu không có bình báu, quí vị có thể dùng cỏ cát tường nhúng nước rảy và đọc câu chú thanh tịnh tâm chấp ngã khi dâng phẩm cúng dường. [Ôm soa ba va xu đa xạt va đạt ma soa ba va xu đa ham]

Cần dùng khăn hay khẩu trang che miệng khi cúng dường để tránh hơi thở làm ô nhiễm phẩm cúng dường. Ngoài ra, che miệng cũng giúp tâm chuyên chú, và ngăn không nói chuyện, tránh văng nước miếng làm ô nhiễm phẩm cúng dường.

Phẩm cúng dường có tám. Có thể cúng bảy chén nước và một ngọn đèn, hoặc bày đủ tám phẩm cúng dường riêng biệt. Đây là những phẩm quý giá thời Phật. Mỗi phẩm cúng tương ứng với một thủ ấn và một câu chú. Tuy vậy, hàng ngày cúng dường không cần bắt thủ ấn và tụng chú, chỉ khi nào hành trì nghi quỹ mới cần đến.

Dưới đây là chi tiết tám phẩm cúng dường:

Phẩm 1. Nước uống [nước]
[Om Benza Argham Ah Hum – Ôm Ben-dza Ạt-Găm A Hum]

Phẩm 2. Nước rửa chân [nước]
[Om Benza Padyam Ah Hum – Ôm Ben-dza Pan-đên A Hum]

Phẩm 3. Hoa: gieo thiện nghiệp để kiếp sau làm người tướng mạo tươi đẹp [hoa tươi hay pha lê].
[Om Benza Pushpe Ah Hum – Ôm Ben-dza Púp-pê A Hum]

Phẩm 4. Hương thơm: gieo thiện nghiệp để kiếp sau làm người,
thân thể thơm tho không hôi thối
[dầu thơm, nhang, trầm, không cần đốt]:
[Om Benza Dhupe Ah Hum – Ôm Ben-dza Đúp-pê A Hum]

Phẩm 5. Đèn: giúp tịnh nghiệp vô minh, đặc biệt là xua tan bóng tối cõi trung ấm, đặc biệt cho người đang trong giai đoạn cận tử, 49 ngày sau khi chết. [đèn cầy hay đèn dầu]
[Om Benza Aloke Ah Hum – Ôm Ben-dza A-lô-kê A Hum]

Phẩm 6. Nước thơm: Vào thời Phật, trước khi Phật đến thuyết pháp, người ta thường hay rãi nước để lắng bụi uế trong thành [nước] [Om Benza Gande Ah Hum – Ôm Ben-dza Ghên-đê A Hum]

Phẩm 7. Thực phẩm [quả hay bánh trái]
[Om Benza Newe Ah Hum – Ôm Ben-dza Niu-đê A Hum]

Phẩm 8. Âm nhạc [vỏ ốc]
[Om Benza Shapda Ah Hum – Ôm Ben-dza Sáp-ta A Hum]

Phẩm cúng dường bày từ trái qua phải, đếm từ phẩm thứ nhất đến thứ 8. Thu dọn theo chiều ngược lại.

Nếu dùng bảy nước và một đèn thì ngọn đèn bày ở phẩm số 5.

[H18: hình bảy chén nước, một ngọn đèn]

Nếu cúng đủ tám phẩm cúng dường thì dùng gạo hay đá quí để lót phẩm cúng dường [lót các phẩm số 3, 4, 5, 7 và 8].

Nếu lót bằng gạo, buổi tối phải dẹp cả tám chén. Gạo không thể giữ qua đêm vì vấn đề chuột, bọ. Gạo cúng rồi không ăn mà rải ra cho chim chóc ăn. Sáng hôm sau bày gạo mới và cúng phẩm mới.

Nếu kiếm được đá quý thì dùng đá quý lót phẩm cúng dường, thỉnh thoảng rửa sạch phơi khô. Nếu dùng đá quí lót cúng phẩm, mỗi ngày chỉ cần thay ba chén nước [chén số 1, số 2 và số 6]

Phẩm trái cây tốt nhất nên thay mỗi ngày, nhưng vẫn có thể giữ vài hôm, miễn đừng hư héo. Trái cây và nước sau khi cúng dường đều có thể ăn, uống, hoặc cũng nên mang ra vườn rải nơi thanh sạch, nghĩ rằng loài ngạ quỷ đói khát lâu ngày không có đồ ăn nước uống, nhờ vào thực phẩm này nguyện cho họ được no đủ. Rải phẩm cúng dường bằng cái tâm như vậy thì ngạ quỷ sẽ hưởng được.

Nếu không tìm được đá quý và không muốn dùng gạo thì có thể đơn giản dùng 7 chén nước và 1 ngọn đèn, năng dụng như nhau.

 

HỎI ĐÁP

Hỏi. Nước cúng dường là nước đun sôi hay là nước chưa đun, nước giếng hay nước lấy từ vòi?

Đáp. Chỉ cần sạch sẽ tinh khiết. Có thể đun sôi để nguội, hoặc nước mưa, nước giếng, nước lọc đều được. Miễn đừng cúng nước nóng.


Hỏi. Người Việt Nam có bàn thờ, thờ tổ tiên một bên và thờ Phật một bên. Bây giờ làm thêm bàn thờ Phật theo Mật tông thì có thể làm thêm một bàn thờ trong phòng ngủ của mình không? Vì bàn thờ Phật có sẵn cao trên trần nhà, rất khó bày chén cúng.

Đáp. Nếu muốn thì lập bàn thờ Mật tông riêng cũng được, bằng không cứ dùng chung với bàn thờ có sẵn . Quan trọng là phải giữ bàn thờ cho thật sạch. Bàn thờ Phật Việt Nam Thầy không rõ ra sao, chỉ thấy Phật tử Mã lai cúng hương trên bàn thờ, rớt đầy tàn nhang, nhưng cứ để dơ như vậy không chùi dọn, nói rằng bàn thờ một năm mới được dọn một lần. Thầy nói làm như vậy sẽ không được chút công đức nào mà còn tạo ác nghiệp. Bàn thờ phải giữ cho gọn gàng, sạch sẽ, phải khiến cho mình có được cảm giác thoáng mát tươi đẹp. Trong trường hợp bàn thờ quá cao khó bày chén nước thì vẫn có thể lập thêm một bàn thờ ở ngang tầm tay. Phải leo ghế để cúng Phật trẻ tuổi không sao, lớn tuổi có khi nguy hiểm.

Hỏi. Đèn cầy có thể để cả ngày đêm?

Đáp. Đèn cầy nên để cho tới khi tự cháy hết. Trong trường hợp cả nhà đi vắng không ai coi chừng thì có thể tắt đèn cầy, nhưng không được thổi (tránh hơi thở, nước miếng văng vào phẩm cúng dường), mà nên dùng tay phẩy cho tắt. Có thể dùng đèn dầu thay cho đèn cầy. Nếu dùng đèn dầu, buổi tối dẹp cúng phẩm cứ để lại ngọn đèn dầu cháy cả ngày cả đêm.

Hỏi- Có thể dùng sữa bột để cúng dường thực phẩm được không? Có thể để qua đêm được không?

Đáp- Được. Nên để tối đa 3 ngày sau đó thay đổi, nếu thay được hàng ngày thì tốt.

Hỏi- Nước cúng dường có thể uống cho khỏe được không hay là phải rải ra vườn?

Đáp- Nước gia trì có thể uống được hoặc là rải ra vườn để bố thí cho súc sanh ngạ quỷ, tùy tâm mình.


PHỤ LỤC 2:

THỈNH ĐẠO SƯ TRUYỀN LỰC GIA TRÌ

Trước mọi công phu hành trì, chúng ta nên bỏ vài phút để quán tưởng thỉnh đạo sư truyền lực gia trì. Pháp thỉnh đạo sư gia trì này rất đơn giản, chỉ cần:

· Ngồi xếp bằng trên tọa cụ theo thế kiết già,

· Tưởng tượng trên đỉnh đầu mình có một đài sen ngàn cánh, trên đài sen là một đài mặt trăng dẹp, bên trên là đấng Bổn sư của mình.

· Tưởng tượng bổn sư và Phật Kim Cang Trì là một. Hướng về bổn sư, khởi tâm thỉnh lực gia trì của đức bổn sư mang sắc tướng Phật Kim Cang Trì.

· Nhờ lòng chân thành thỉnh cầu như vậy, đức bổn sư rất hoan hỷ, mỉm nụ cười từ bi, tan xuống đỉnh đầu ta, rót vào tim ta. Theo y học thì trái tim nằm bên trái, nhưng lúc quán tưởng hãy tưởng tượng trái tim nằm ở giữa lồng ngực, như một quả trứng mở ra. Lực gia trì của đức bổn sư mang sắc tướng Phật Kim Cang Trì rót xuống đỉnh đầu, rót thẳng vào trong tim. Trái tim như quả trứng mở ra, trọn vẹn lực gia trì rót vào, trái tim khép lại, giữ kín chặt nơi đó.

· Hãy thấy tinh túy của mình và tinh túy của bổn sư trở thành bất nhị, không thể phân chia. Hãy tin chắc rằng đức bổn sư Phật Kim Cang Trì có được bao nhiêu từ bi trí tuệ, bây giờ bản thân mình cũng có được đầy đủ bấy nhiêu.

Pháp hành này rất quan trọng, trước thời công phu sáng, trước mọi pháp hành, hãy nên thỉnh lực gia trì của Đạo sư. Là vì quán tưởng tinh túy của đạo sư rất quan trọng. Không có đạo sư sẽ không thể đạt quả giác ngộ. Chúng ta đã không còn đủ phước duyên để trực tiếp gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng đạo sư là hiện thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, vì vậy gặp được đạo sư cũng như gặp Phật. Vì vậy mỗi khi quán tưởng đạo sư và Phật Kim Cang Trì bất nhị, mỗi khi quán tưởng được như vậy, nghiệp chướng nhiều đời đều được thanh tịnh. Nhiều kinh sách nói rằng dù quán tưởng trăm ngàn ảnh Phật, công đức này vẫn không thể sánh với công đức của chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi hướng về đạo sư, bất nhị với Phật Kim Cang Trì. Là vì chúng ta ngày nay không còn đủ phước duyên trực tiếp gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng vẫn còn gặp được bậc đạo sư, mang thân người, gần bên chúng ta. Không xa, rất gần. Vì vậy nếu hướng về đạo sư để thỉnh lực gia trì thì lực gia trì sẽ rót xuống mau chóng và mãnh liệt, vì rất gần.

Lực gia trì chỉ có thể rót xuống từ một dòng truyền thừa không gián đoạn. Người không tiền thì dù muốn mang tiền cho người khác cũng không có để mà cho. Tương tự như vậy, lực gia trì muốn rót vào tâm đệ tử thì phải rót từ một nơi còn chan chứa lực gia trì, phải từ dòng truyền thừa không gián đoạn, thẳng từ Đức Phật rót xuống. Dòng truyền thừa nếu đã đứt đoạn thì còn lực gia trì đâu nữa để mà rót xuống. Sự liên tục của dòng truyền thừa là yếu tố vô cùng quan trọng.

Dòng truyền thừa của Thầy, quý vị ở đây cũng biết, thuộc dòng truyền thừa Kagyu, là một trong bốn dòng của Phật Pháp Tây Tạng, xuất phát từ đức Phật Kim Cang Trì. Phật Kim Cang Trì không phải là hóa thân của Phật, hoàn toàn không mang sắc tướng con người mà chính là pháp thân của Phật. Đức Phật Kim Cang Trì thuyết giảng Pháp Đại Thủ Ấn, có bao nhiêu từ bi, trí tuệ rót hết cho vị sơ tổ của dòng Kagyu là ngài Tilopa, bậc cao tăng Ấn Độ. Rồi ngài Tilopa truyền hết chứng ngộ trí tuệ và từ bi cho đại đệ tử là ngài Naropa. Sau đó ngài Marpa từ Tây Tạng phải cực khổ du hành qua Ấn Độ để thỉnh chánh pháp. Ngài Naropa đã truyền hết chứng ngộ cho ngài Marpa mang về Tây Tạng. Hồi đó không có máy bay, xe hơi, phương tiện di chuyển rất cực khổ, các ngài phải vượt đường xá hiểm trở để thỉnh nguồn giáo pháp cực kỳ quý giá. Khi ngài Marpa về lại Tây Tạng thì một trong những vị đại đệ tử của ngài là đức Milarepa, đã dựa vào giáo pháp này mà tu một đời thành Phật, đều nhờ vào dòng truyền thừa này. Milarepa truyền lại dòng truyền thừa đại thủ ấn này cho đệ tử chân truyền là Gampopa. Ngài Gampopa có 4 đại đệ tử, từ bốn vị này thành bốn nhánh truyền thừa chính của dòng Kagyu: dòng Barom Kagyu của Thầy, xuất phát từ đức Barom Darma Wangchuk; dòng Karma Kagyu xuất phát từ đức Karmapa đời thứ nhất, ngài Dusum Khyenpa; dòng Tshalpa xuất phát từ đức Tsondragpa và dòng Phamo Kagyu xuất phát từ đức Phamo Trupa. Sau đó lại có thêm tám nhánh phụ. Dòng truyền thừa Kagyu từ đó mà ra, đến nay vẫn còn liên tục không gián đoạn, do những đời tổ sư tiếp nối giữ gìn chứ không phải do người có quyền có thế hay có tiền có của tự sáng tạo ra. Trải qua nhiều đời chân truyền, thành một dòng không gián đoạn, được gọi là Chuỗi Hạt Vàng. Quí vị hôm nay có được thiện duyên tiếp xúc với Chuỗi Hạt Vàng vô cùng quý giá này, nếu có được tâm trong sáng, dựa vào dòng chánh pháp này nhất định sẽ có khả năng đạt mọi chứng ngộ từ bi và trí tuệ từ đức Phật truyền xuống.

Còn một điều rất quan trọng Thầy muốn chia sẻ với quý vị: trước khi theo một vị thầy, chúng ta cần rất thận trọng, dùng lý trí xét cho thật kỹ xem vị thầy này có phải là bậc chân sư hay không. Đương nhiên không nên rơi vào vòng thị phi khen chê đúng sai v.v... nhưng phải biết dùng lý trí suy xét xem vị thầy này thuộc dòng truyền thừa nào, sư phụ là ai, nhân phẩm như thế nào, có phải là bậc chân sư xứng đáng cho mình theo học Pháp hay không. Một khi đã đến nghe Pháp, thọ gia trì, nhận quán đảnh là đã quá trễ, đã lỡ tạo duyên với ác tri thức. Phải biết thận trọng suy xét cho kỹ lưỡng trước khi tạo duyên.

Thời gian gần đây, Thầy nghe nói có nhiều việc xảy ra ở Việt Nam, có nhiều người đứng ra tự xưng là La-ma, đạt chứng ngộ này, chứng ngộ nọ, được sự công nhận của bậc chân sư này, chân sư kia v.v... Những việc như vậy chúng ta phải vận dụng lý trí để mà suy xét. Ví dụ nghe nói đời nay có người tự cho là còn giữ được huyết của đức Phật, còn trong ly, màu đỏ. Chỉ cần suy nghĩ một chút, từ thời Phật đến nay đã hơn 2500 năm, thời đó hoàn toàn không có chất bảo quản như ngày nay, làm cách nào có thể giữ máu Phật qua hơn hai ngàn năm không biến màu? Những việc này có thể dùng lý trí để mà biết là chân hay giả.

Xá lợi Phật cũng vậy, xá lợi Phật rất hiếm hoi, nếu có được 1 – 2 viên, điều này còn có thể chấp nhận được. Cả một quốc gia như Nepal cũng chỉ có được một viên xá lợi. Thế nhưng ngày nay chúng ta may mắn đến nỗi xá lợi có thể hốt cả nắm, có thể mua một cách dễ dàng. Những điều này phải khiến chúng ta suy nghĩ xem là giả hay chân. Khi Thầy nghe những việc như thế này, Thầy cảm thấy rất quan tâm. Nhất là đối với những đệ tử có duyên với Thầy, Thầy luôn quan tâm lo lắng. Nếu quý vị tìm được một bậc chân sư khác và theo học thì Thầy hoan hỷ không lo lắng, tu với ai cũng được, miễn tu theo dòng chánh pháp thì đều giống nhau cả, Thầy không có tâm phân biệt. Nhưng nếu chúng ta không dùng lý trí để suy xét, ai nói gì cũng tin theo, gặp đâu cũng đi theo, tự tạo chướng ngại cho chính mình, Thầy cảm thấy có trách nhiệm đối với quí vị. Xin quí vị thận trọng, tự bảo vệ cho chính mình.

bản hiệu đính 27/10/2010


PHỤ LỤC 3:

TÂM NGƯỜI CẦU PHÁP

Khai Tâm Bồ Đề

Trước khi giảng về nội dung pháp tu Ngondro, Thầy muốn chia sẻ về những yếu tố cần phải có khi nghe pháp: phải sửa tâm như thế nào, quán tưởng ra sao khi ngồi nghe pháp.

Chúng ta là kẻ thiện duyên, có được kiếp người quý giá, không những là như vậy, lại còn đầy đủ phước báu để gặp chánh pháp, để tu tập, hành trì. Có được kiếp người quí giá như vậy, cần tận dụng để tu tập hành trì, có như vậy kiếp người này mới xứng đáng, mới thật sự có ý nghĩa.

Khi tu tập hành trì, cần đặc biệt chú ý đến tâm nguyện động cơ hành trì của mình. Cần nghĩ rằng đây là cơ hội hiếm hoi, không dễ gặp. Không dễ gì mà có được cơ hội tu tập, có khả năng mang lợi ích lớn lao đến cho chính mình và cho người xung quanh. Cần thấy tất cả chúng sanh quanh mình đều là cha mẹ nhiều đời của mình. Chúng ta đã sinh ra cõi này hàng vô lượng đời kiếp, vì vậy bất cứ một ai trong quá khứ cũng đã từng là cha hay là mẹ thân yêu của mình. Điều này nếu chỉ nói ở bờ môi là không đủ. Đọc trong kinh sách, nghe Thầy nói rồi bắt chước lặp lại, như vậy không đủ, không nhiều tác dụng.

Đây là điều cần phải miệng nói, bụng nghĩ, tâm hành. Cần phải có cảm nhận sâu sắc rằng mỗi mỗi chúng sinh trong cõi sinh tử luân hồi này đều đã từng là cha mẹ thân yêu của mình, đã từng thương yêu chăm sóc cho mình, có ơn rất nặng đối với mình và mình cảm thấy thôi thúc muốn đền trả ơn nặng của chúng sanh. Làm sao đền trả được ơn này? chỉ có một cách, phải tu tập hành trì để có thể đưa tất cả chúng sinh thoát biển khổ sinh tử luân hồi.

Bao giờ có được tâm như vậy đối với chúng sinh, thấy tất cả chúng sinh đều là người mẹ thân yêu có ơn rất nặng đối với mình, được như vậy mỗi khi có sự bất đồng xảy ra, gặp việc chia rẻ, bè phái, trái ý trái lòng, nhớ được điều này sẽ giúp chúng ta giữ được lòng thương yêu đối với mọi người.

Điều này nói dễ, làm khó. Vì ngay cả người mẹ đời này có khi mình đã không thích, đôi khi có sự bất đồng, không thương yêu, đừng nói gì đến những đời quá khứ. Gặp trường hợp như vậy, chúng ta cần tu tập nhiều hơn nữa.

Khi biết công phu tu tập là quí thì sẽ hiểu được cha mẹ là quí giá như thế nào. Con người không phải từ nơi cây cỏ mà sinh ra, ai cũng phải có cha có mẹ. Ngay cả loài cây cỏ muốn có mặt trên cõi đời thì cũng cần được sự hỗ trợ của nhiều yếu tố bên ngoài mới có thể lớn mạnh tốt tươi, huống chi là con người. Cần phải hiểu rằng chúng ta cần được sự hỗ trợ của biết bao nhiêu là duyên tố, nhờ vào đó ngày hôm nay mới có được đời sống hiện tại, có được cơ hội hiếm hoi này, được đến đây nghe pháp, hành trì theo Phật pháp, một cơ hội cực kỳ quí giá, cho chúng ta khả năng thực hiện được mục tiêu tối hậu trong cõi sinh tử. Tất cả đều nhờ vào ơn nặng của người đã cho mình tấm thân này. Hiểu được như vậy tự nhiên sẽ biết quí người mẹ đời này của mình. Một khi đã biết quí người mẹ đời này của mình, không lý do gì lại bỏ bê những người mẹ trong các đời quá khứ. Cứ như vậy, tâm chúng ta sẽ từ từ rộng mở, cho đến khi có được tấm lòng thôi thúc mong mỏi đưa tất cả chúng sinh thoát biển khổ sinh tử luân hồi. Đây là tâm nguyện động cơ cần phải có khi tu tập hành trì theo Phật pháp.

Ở đây nhiều người đã từng làm mẹ. Lòng mẹ thương con như thế nào, Thầy không cần phải nói nhiều, quí vị đều đã có kinh nghiệm riêng. Ở đây không phải là lời Thầy nói mà chính là lời của đức Gampopa đã nói về công ơn sinh dưỡng của người mẹ đối với con mình.

Ngay thời điểm đứa con sanh vào thai mẹ, thân mẹ đã không còn bình an, như vướng cơn trọng bệnh. Chín tháng mười ngày cưu mang, không phút giây nào mẹ không nghĩ đến thai nhi. Ăn cũng vì thai nhi mà ăn, uống cũng vì thai nhi mà uống. Thức ăn quá nóng mẹ không ăn, thức ăn quá lạnh mẹ cũng không dùng. Khi ngủ mẹ chọn thế nằm sao cho thai nhi được thoải mái. Khi đi mẹ cũng nhẹ nhàng sợ thai nhi bị động. Từng giờ, từng phút, từng giây, không lúc nào mẹ nghĩ đến chính mình, nhất cử nhất động đều hướng về thai nhi. Đến khi trẻ chào đời, mẹ cơ hồ đứt thở. Hơi thở bên ngoài đã đứt, còn cầm được chút hơi thở bên trong để đưa con vào đời. Khi con ra đời, mẹ nâng niu chăm sóc. Đêm mẹ không được yên ngủ như người khác yên ngủ. Ngày mẹ cũng không được nghỉ ngơi như người khác nghỉ ngơi. Từng giờ từng khắc luôn dõi theo con mình. Rồi dạy cho con tập đi, tập nói, tập đọc, tập viết... rồi đưa con đến trường, lo giáo dục, dạy dỗ, cho con có được cuộc sống nên danh nên phận với người ta. Tấm lòng của bậc làm cha mẹ là như vậy. Chúng ta vào đời, có được mạng sống này, tấm thân này, có thể đến được nơi này để ngồi đây nghe Phật pháp, đều nhờ vào công ơn cha mẹ. Nếu không có cha mẹ cưu mang, giữ thân giữ mạng cho chúng ta, chăm nom từng chút khi ta còn bé mọn, làm sao chúng ta có thể có được những ngày về sau.

Ơn lớn như vậy, phải đền trả như thế nào?

Thử nghĩ nếu con giàu sang sung túc nhưng lại để cha mẹ sống cảnh nghèo hèn thiếu ăn, có chấp nhận được chăng? Thật khó lòng chấp nhận. Tương tự như vậy, ta nay có được kiếp người thuận tiện, không thể nào chỉ nghĩ đến bản thân của chính mình trong đời này, quên hết các bậc cha mẹ nhiều đời trong quá khứ đang khổ đau trong khắp sáu cõi luân hồi. Cần đền trả ơn nặng của cha mẹ, bằng cách đưa tất cả thoát cảnh khổ đau sinh tử luân hồi. Chẳng thể chỉ riêng mình đạt cõi an lạc niết bàn là đủ, chẳng thể để cha mẹ nhiều đời của mình trôi lăn trong khổ đau. Ta không thể kham nổi khổ đau sinh tử luân hồi, cũng không thể kham nổi cảnh để cho mẹ hiền chúng sinh phải ngụp lặn trong sinh tử luân hồi. Từ đó phát sinh lòng thôi thúc muốn đưa tất cả thoát cảnh sinh tử, đạt niết bàn giải thoát.

Đó là cái tâm cần phải có khi tu tập hành trì theo Phật Pháp.

2. Tri Kiến Thanh Tịnh

Ngoài tâm bồ đề ra, chúng ta cũng cần phải giữ tri kiến thanh tịnh khi nghe pháp: phải thấy rằng nơi chốn nghe pháp không phải là nơi chốn tầm thường mà chính là tịnh độ của Phật A Di Đà và vị Thầy giảng pháp không phải là con người bình thường mà chính là Đức Phật A Di Đà, chúng ta đang ngồi trước đức Phật A Di Đà, trực tiếp thọ pháp. Thấy được như vậy, lực gia trì mà chúng ta nhận được sẽ là lực gia trì trực tiếp đến từ đức Phật A Di Đà. Ngược lại nếu thấy Thầy chỉ là một con người bình thường, nơi này cũng chỉ là cảnh thế tục tầm thường, vậy lực gia trì nhận được sẽ chỉ là tầm thường thế tục mà thôi. Bản thân Thầy không có gì đặc biệt, nhưng Thầy thuộc dòng truyền thừa gọi là "Chuỗi Hạt Vàng". Nương lực gia trì của dòng truyền thừa này, nếu giữ được tri kiến thanh tịnh, thấy được Thầy chính là Phật A Di Đà đang truyền pháp, nhờ vào đó sẽ có thể trực tiếp thọ pháp từ đức Phật A Di Đà.

3. Người Mang Trọng Bệnh

Khi đến nghe pháp như vậy, cần thấy ta là người vướng trọng bệnh, Thầy là bác sĩ cho thuốc và Pháp là thuốc chữa lành cơn bệnh dữ.

Bệnh dữ nói ở đây là chứng bệnh sinh tử, do năm chất độc phiền não gây ra: tham, sân, si, ganh ghen, kiêu mạn. Năm chất độc này không ngừng tác hại, khiến ta cứ phải triền miên ngụp lặn trong cõi sinh tử luân hồi không thể thoát.

Vì vướng cơn trọng bệnh này nên ta mới đến đây để tìm tìm Thầy, tìm pháp, mong chữa lành cơn bệnh dữ. Tìm được phương pháp chữa bệnh rồi thì phải làm theo. Phải chuyên tâm làm theo mới mong dứt được cơn bệnh dữ.

Lấy ví dụ như phiền não tham. Nếu ta hiểu sinh tử luân hồi khổ đau như thế nào, lại hiểu rõ lòng tham khiến cho ta trôi lăn sinh tử ra sao, tự nhiên sẽ biết chán khổ sinh tử luân hồi, và vì chán khổ sinh tử luân hồi nên sẽ biết chán ngán lòng tham của mình, phát tâm muốn từ bỏ.

Hiểu tham là trọng bệnh, đến đây kiếm liều thuốc chữa dứt bệnh tham, đó là tâm lý của người đến nghe pháp cần phải có.

Hay ví dụ như bệnh sân. Cực kỳ tai hại. Thân thiết lâu năm, chỉ cần một lần nổi sân là phân lìa vĩnh viễn. Khuôn mặt xinh tươi đến đâu, nổi sân lên trở nên rất đáng sợ. Lòng sân đủ khả năng biến tươi đẹp thành xấu xí, biến tốt lành thành xấu xa, biến mạnh khỏe thành tật bệnh. Nói cho thật cụ thể, khi nổi sân lên, huyết áp tăng, kháng thể giảm, dễ tai biến mạch máu não. Đều là những điều trong đời thường có thể xét thấy. Còn nói trên phương diện Phật pháp thì lòng sân lại còn tai hại hơn gấp bội: công đức khổ công tích lũy bao nhiêu đời, chỉ một niệm sân là cháy rụi tất cả. Sân là chất độc đáng sợ, là cơn bệnh trầm kha. Vì biết sân là trọng bệnh nên ta đến đây nghe pháp, tìm cách chữa cơn bệnh dữ này.

Đó là tâm của người cầu pháp. Không để giải trí, không tìm cầu phúc lợi thế gian. Chỉ một lòng muốn chữa lành cơn trọng bệnh sinh tử luân hồi.